Với tầm nhìn chiến lược và quyết tâm chính trị cao, Quảng Ninh lựa chọn con đường phát triển xanh, lấy chuyển đổi số làm nền tảng, KHCN và đổi mới sáng tạo làm động lực then chốt cho mô hình tăng trưởng mới. Từ một địa phương dựa nặng vào khai thác khoáng sản, tỉnh đã từng bước chuyển mình mạnh mẽ theo hướng “xanh hóa” nền kinh tế, hiện đại hóa quản trị và nâng cao chất lượng tăng trưởng. Thực tiễn hơn một thập kỷ đổi mới cho thấy, Quảng Ninh đã đi trước trong chuyển đổi từ “nâu” sang “xanh” và chủ động xây dựng không gian phát triển bền vững, hiện thực hóa khát vọng trở thành cực tăng trưởng năng động, hiện đại của phía Bắc và cả nước.
Đối với Việt Nam, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo là yêu cầu khách quan, là lựa chọn chiến lược để phát triển nhanh và bền vững. Sau những cam kết mạnh mẽ tại Hội nghị COP26 năm 2021 về giảm phát thải khí nhà kính và tại Hội nghị COP28 năm 2023 về chuyển đổi năng lượng, Việt Nam tiếp tục khẳng định quyết tâm hành động nhằm giảm phát thải CO₂, thúc đẩy tăng trưởng xanh và từng bước chuyển dịch sang mô hình phát triển phát thải thấp. Đây không chỉ là trách nhiệm quốc tế, mà còn là yêu cầu nội tại của quá trình phát triển, khi các nguồn lực truyền thống dần cạn kiệt và sức ép môi trường ngày càng gia tăng.
Trong dòng chảy chung đó, nhiều chuyên gia nhận định Việt Nam đang nổi lên như một nhân tố năng động của nền kinh tế toàn cầu, trong đó chuyển đổi xanh đóng vai trò là một chất xúc tác quan trọng cho tăng trưởng và tái cấu trúc nền kinh tế. Phát triển xanh không đơn thuần là giảm phát thải hay bảo vệ môi trường, mà là quá trình tổ chức lại toàn bộ phương thức sản xuất, tiêu dùng và quản trị theo hướng tiết kiệm tài nguyên, thân thiện với hệ sinh thái và có khả năng chống chịu cao trước các cú sốc bên ngoài.
Quảng Ninh là một trong những địa phương sớm nhận diện được yêu cầu đó. Là tỉnh ven biển, cửa ngõ chiến lược của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, nơi hội tụ đồng thời tài nguyên khoáng sản, hệ sinh thái biển - đảo, du lịch, dịch vụ logistics và công nghiệp, Quảng Ninh vừa có lợi thế vượt trội, vừa phải đối mặt với sức ép lớn về môi trường và không gian phát triển. Cách đây hơn một thập kỷ, tỉnh đã chủ động nhìn thẳng vào những mâu thuẫn trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, từ xung đột giữa khai thác khoáng sản với phát triển du lịch, giữa công nghiệp hóa với yêu cầu bảo vệ môi trường sinh thái, đến thách thức của biến đổi khí hậu và các an ninh phi truyền thống.
Trên cơ sở đó, Quảng Ninh kiên định lựa chọn con đường chuyển đổi từ “nâu” sang “xanh” như một chiến lược phát triển dài hạn, xuyên suốt nhiều nhiệm kỳ. Tỉnh quán triệt sâu sắc và triển khai nghiêm túc các chủ trương, đường lối của Trung ương về đổi mới mô hình tăng trưởng, tạo sự thống nhất cao về tư duy phát triển và hành động trong toàn hệ thống chính trị. Chiến lược tăng trưởng xanh được thực hiện một cách nhất quán, lấy chất lượng tăng trưởng và bảo vệ môi trường làm trọng tâm, coi đây là nền tảng để bảo đảm bền vững cho tương lai.
Trong lĩnh vực công nghiệp, tỉnh chuyển mạnh từ phát triển theo chiều rộng dựa vào khai thác tài nguyên sang phát triển theo chiều sâu, dựa vào công nghệ và giá trị gia tăng. Ngành Than, trụ cột truyền thống của nền kinh tế tỉnh, vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và nguồn thu ngân sách, nhưng tỷ trọng trong cơ cấu GRDP đã giảm dần qua từng giai đoạn, từ 35% năm 2010 xuống còn khoảng 19-20% năm 2025. Sự suy giảm về tỷ trọng này không phải là biểu hiện của suy yếu, mà là kết quả của một quá trình tái cơ cấu chủ động, nhằm giảm phụ thuộc vào khai thác tài nguyên và mở rộng không gian cho các ngành kinh tế bền vững hơn.
Song song với đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng nhanh, từ 9,8% GRDP năm 2020 lên 14,5% năm 2025, trở thành một trong những động lực tăng trưởng mới. Quảng Ninh thu hút đầu tư có chọn lọc, ưu tiên các dự án sử dụng công nghệ cao, thân thiện với môi trường và có giá trị kinh tế lớn. Các khu công nghiệp hiện đại như Bắc Tiền Phong, Nam Tiền Phong, Sông Khoai được hình thành theo mô hình xanh - sạch - thông minh, tạo nền tảng cho phát triển công nghiệp bền vững trong dài hạn.
Một hướng đi quan trọng khác là thúc đẩy kinh tế tuần hoàn trong lĩnh vực công nghiệp và đô thị. Đất đá thải mỏ được tái sử dụng làm vật liệu san lấp, vật liệu xây dựng cho các dự án hạ tầng lớn; doanh nghiệp được khuyến khích đầu tư công nghệ tiên tiến trong xử lý, tái chế chất thải, tiết kiệm tài nguyên và năng lượng. Từ chỗ coi chất thải là gánh nặng môi trường, Quảng Ninh từng bước biến chất thải thành nguồn tài nguyên thứ cấp, vừa giảm áp lực lên môi trường, vừa nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên.
Trong lĩnh vực du lịch - dịch vụ, chuyển đổi xanh được xác định là trụ cột chiến lược. Quảng Ninh vươn lên trở thành một trong những trung tâm du lịch đẳng cấp, chuyên nghiệp hàng đầu của cả nước, với định hướng phát triển du lịch xanh, thông minh, bền vững. Không gian du lịch được mở rộng từ Vịnh Hạ Long sang Vịnh Bái Tử Long, kết hợp với phát triển du lịch trải nghiệm thiên nhiên, rừng ngập mặn, nông nghiệp sạch. Kinh tế đêm, kinh tế di sản và công nghiệp văn hóa được thúc đẩy, vừa tạo ra sản phẩm du lịch mới, vừa giảm áp lực khai thác lên tài nguyên thiên nhiên.
Nông nghiệp sinh thái, kinh tế biển và lâm nghiệp bền vững cũng là những trụ cột quan trọng của chuyển đổi xanh. Quảng Ninh đẩy mạnh chuyển giao và ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, từ chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi đến xây dựng nhãn hiệu hàng hóa cho các sản phẩm nông sản chủ lực, sản phẩm OCOP. Nghề nuôi biển được phát triển theo quy hoạch, gắn với chống khai thác thủy sản bất hợp pháp, hoàn thành quy hoạch nuôi biển bền vững, xây dựng quy chuẩn kỹ thuật địa phương về vật liệu nổi thân thiện môi trường và hình thành mô hình hợp tác xã nuôi biển.
Trong lâm nghiệp, tỉnh tăng cường quản lý rừng, bảo vệ và phục hồi hệ sinh thái, tập trung trồng rừng gỗ lớn, vừa nâng cao giá trị kinh tế, vừa tăng khả năng hấp thụ carbon. Những nỗ lực đó góp phần định hình một nền kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp hiện đại, sinh thái và bền vững hơn.
Bên cạnh đó, trong tư duy quy hoạch và phát triển không gian, tỉnh chủ động xây dựng và triển khai đồng bộ các quy hoạch, cơ chế, chính sách, chiến lược phát triển phù hợp với tiềm năng và định hướng quốc gia; kịp thời tháo gỡ các “điểm nghẽn” về hạ tầng, thủ tục, môi trường đầu tư; mở ra không gian phát triển mới, huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội. Hạ tầng chiến lược được đầu tư đồng bộ, tạo nền tảng cho phát triển xanh trong dài hạn.
Nếu chuyển đổi xanh là đích đến của mô hình phát triển mới, thì chuyển đổi số chính là nền tảng và công cụ để hiện thực hóa đích đến đó. Sự giao thoa giữa chuyển đổi số và chuyển đổi xanh tạo nên một sức mạnh tổng hợp đặc biệt. Chuyển đổi số không chỉ là phương tiện hiện đại hóa nền kinh tế, mà còn cung cấp các công cụ mạnh mẽ để thúc đẩy tăng trưởng xanh, từ tối ưu hóa quản lý năng lượng, giảm phát thải trong sản xuất, đến phát triển các mô hình kinh tế tuần hoàn dựa trên dữ liệu. Ở chiều ngược lại, các hoạt động xanh lại tạo ra nhu cầu và không gian mới cho việc ứng dụng các giải pháp số bền vững.
Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã nhấn mạnh yêu cầu phát triển “mô hình tăng trưởng mới”, trong đó kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn là trọng tâm đổi mới chiến lược phát triển. Phát triển kinh tế dựa trên khoa học, công nghệ và chuyển đổi số được xác định là động lực chính. Trên tinh thần đó, Quảng Ninh đặc biệt coi trọng phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm nền tảng cho chuyển đổi xanh.
Tỉnh đầu tư mạnh mẽ vào hạ tầng số, tạo nền tảng cho đổi mới sáng tạo trong kỷ nguyên 4.0. Chính quyền số, kinh tế số và xã hội số được xây dựng một cách bài bản, đồng bộ. Các dịch vụ công trực tuyến mức độ cao được triển khai rộng khắp, tạo sự kết nối liền mạch giữa người dân, doanh nghiệp và cơ quan nhà nước, góp phần giảm chi phí giao dịch, tăng tính minh bạch và hiệu quả quản trị.
Quảng Ninh bảo đảm vùng phủ internet tốc độ cao trên toàn tỉnh, đặc biệt là triển khai mạng 5G tại các khu kinh tế trọng điểm và khu du lịch, tạo điều kiện cho việc phát triển các ứng dụng thông minh. Trung tâm giám sát, điều hành thông minh tỉnh Quảng Ninh được đầu tư, thử nghiệm và từng bước hoàn thiện, đóng vai trò “bộ não số” trong quản lý, điều hành, từ giao thông, môi trường đến an ninh trật tự và dịch vụ đô thị.
Cùng với đó, Trung tâm Hỗ trợ khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo tỉnh được thành lập, Khu công nghiệp công nghệ số Hạ Long ICT Park đang được hình thành, góp phần xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và tự động hóa trong sản xuất, quản trị. Đây là những hạt nhân quan trọng để Quảng Ninh từng bước chuyển từ thu hút đầu tư dựa trên tài nguyên và lao động giá rẻ sang thu hút đầu tư dựa trên công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực.
Những nỗ lực đó đã mang lại kết quả rõ nét. Năm 2025, Quảng Ninh đứng thứ ba toàn quốc về Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương với 58,41 điểm, tăng 3 bậc so với năm 2024 và 6 bậc so với năm 2023. Chỉ số này không chỉ phản ánh mức độ đầu tư cho KHCN và đổi mới sáng tạo, mà còn cho thấy hiệu quả của việc chuyển hóa các nguồn lực số thành động lực tăng trưởng thực chất.
Chuyển đổi số cũng được triển khai sâu rộng trong các ngành, lĩnh vực. Trong du lịch, các nền tảng số như bản đồ số, vé điện tử, hướng dẫn viên số được ứng dụng rộng rãi, góp phần nâng cao trải nghiệm của du khách, giảm chi phí vận hành và hỗ trợ quản lý điểm đến theo hướng bền vững. Trong nông nghiệp, công nghệ số được sử dụng để quản lý vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, tối ưu hóa quy trình sản xuất, nâng cao chất lượng và giá trị nông sản.
Trong công nghiệp, doanh nghiệp được khuyến khích ứng dụng các giải pháp số để tự động hóa dây chuyền sản xuất, quản lý năng lượng, giảm tiêu hao nguyên liệu và phát thải. Việc kết hợp giữa công nghệ số và công nghệ xanh đang từng bước hình thành các mô hình “nhà máy thông minh”, “khu công nghiệp thông minh”, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp Quảng Ninh.
Song song với phát triển hạ tầng số, Quảng Ninh đặc biệt chú trọng phát triển hạ tầng xanh và đô thị thông minh. Trong nhiệm kỳ qua, tỉnh đã hoàn thành và đưa vào khai thác khoảng 825 km đường bộ, trong đó có hơn 80 km cao tốc. Hệ thống cao tốc, cảng biển, sân bay được đầu tư đồng bộ, hiện đại, kết nối liên vùng, rút ngắn thời gian lưu thông, giảm phát thải và tăng hiệu quả logistics. Các đô thị sinh thái, khu dân cư xanh ven biển đang được hình thành, hướng tới mục tiêu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trước năm 2030.
Nhiều công trình quan trọng đang được nghiên cứu triển khai, như tuyến đường sắt tốc độ cao, định hướng khu hành chính mới của tỉnh, tạo động lực lan tỏa cho toàn vùng. Đây không chỉ là những dự án hạ tầng thuần túy, mà còn là biểu tượng của một tư duy phát triển mới, trong đó hạ tầng vật lý, hạ tầng số và hạ tầng xanh được tích hợp trong một chỉnh thể thống nhất.
Quá trình chuyển đổi từ “nâu” sang “xanh” và chuyển đổi số của Quảng Ninh là một tiến trình liên tục, có tính kế thừa, tích lũy và bứt phá. Những giải pháp quyết liệt của tỉnh trong thời gian qua đã chuyển hóa thành kết quả rõ rệt trên nhiều lĩnh vực. Giai đoạn 2021-2025, kinh tế Quảng Ninh tăng trưởng bình quân 10,4%/năm; quy mô nền kinh tế năm 2025 ước đạt 395.000 tỷ đồng, chiếm trên 10% tổng quy mô vùng Đồng bằng sông Hồng; GRDP bình quân đầu người trên 11.000 USD, gấp 2,3 lần bình quân cả nước; năng suất lao động tăng bình quân 13,4%/năm; ICOR giảm từ 6,09 xuống 5,28; đóng góp của TFP đạt 50%. Chỉ số phát triển bền vững và chỉ số xanh luôn dẫn đầu cả nước.
Từ thực tiễn Quảng Ninh có thể thấy, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số không tồn tại tách rời, mà đang hòa quyện thành một động lực phát triển mới. Một bên định hình đích đến của mô hình tăng trưởng bền vững, một bên cung cấp công cụ và nền tảng để hiện thực hóa đích đến đó. Trên nền tảng “chuyển đổi kép” này, Quảng Ninh đang từng bước xây dựng một mô hình phát triển hiện đại, bền vững, có khả năng chống chịu cao trước biến động, đóng góp thiết thực vào mục tiêu phát triển xanh của quốc gia và khẳng định vai trò tiên phong trong tiến trình phát triển mới của Việt Nam.
Trình bày: Hùng Sơn