Ngày 20/8/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đây được xem là một nghị quyết chiến lược về phát triển năng lượng quốc gia gắn với tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch năng lượng và sử dụng hiệu quả tài nguyên. Hơn một năm sau khi Nghị quyết được ban hành, những yêu cầu đó đang từng bước được TP Quảng Ninh cụ thể hóa bằng việc chuẩn bị nguồn điện, nâng năng lực truyền tải, phát triển các nguồn năng lượng mới và thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả.
Điểm nhấn quan trọng của Nghị quyết 70-NQ/TW là đặt an ninh năng lượng trong tổng thể an ninh quốc gia, gắn trực tiếp với ổn định kinh tế vĩ mô, quốc phòng-an ninh, an sinh xã hội, bảo vệ môi trường và nâng cao đời sống nhân dân. Năng lượng phải được cung cấp đầy đủ, ổn định, chất lượng cao, nhưng đồng thời phải giảm phát thải, sử dụng hiệu quả tài nguyên và từng bước chuyển đổi năng lượng. Theo Nghị quyết, đến năm 2030, cả nước phấn đấu tổng cung năng lượng sơ cấp đạt khoảng 150-170 triệu tấn dầu quy đổi; tổng công suất các nguồn điện khoảng 183-236GW; tỷ lệ năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp khoảng 25-30%. Đáng chú ý, mục tiêu tiết kiệm năng lượng được đặt ở mức 8-10% so với kịch bản phát triển bình thường, đồng thời giảm phát thải khí nhà kính từ hoạt động năng lượng khoảng 15-35%.
Như vậy, bảo đảm an ninh năng lượng được đặt trong một phạm vi rộng hơn yêu cầu bảo đảm đủ điện, mà bao gồm cả khả năng đa dạng hóa nguồn cung, hiện đại hóa hạ tầng, giảm phụ thuộc vào một số nguồn năng lượng, nâng cao hiệu quả sử dụng và kiểm soát phát thải. Nghị quyết cũng yêu cầu quy hoạch năng lượng phải gắn chặt với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có công nghiệp, chuyển đổi số, đô thị, nông thôn và các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ
Ngày 13/10/2025, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 328/NQ-CP, cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết 70 thành chương trình hành động của Chính phủ và yêu cầu các địa phương xây dựng chương trình, kế hoạch triển khai phù hợp với điều kiện thực tế.
Tại Quảng Ninh, quá trình cụ thể hóa được triển khai khá sớm. Ngay trong ngày 13/10/2025, Ban Thường vụ Thành ủy ban cũng đã ban hành Chương trình hành động số 02-CTr/TU. Chương trình xác định phát triển năng lượng phải đáp ứng yêu cầu tăng trưởng, đồng thời gắn với bảo vệ môi trường, giảm phát thải; ưu tiên phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng mới, năng lượng sạch; sử dụng hợp lý năng lượng hóa thạch và từng bước giảm tỷ trọng điện than trong cơ cấu nguồn điện. Tiếp đó, Kế hoạch số 323/KH-UBND ngày 29/11/2025 đã cụ thể hóa chương trình hành động thành các mục tiêu, nhiệm vụ và thời hạn thực hiện. Đồng thời, Kế hoạch cũng phân định trách nhiệm giữa các sở, ngành và chính quyền địa phương; công tác kiểm tra, giám sát chất lượng, tiến độ các dự án năng lượng.
Điểm quan trọng là trong Kế hoạch, thành phố không dừng ở việc duy trì nguồn năng lượng hiện có, mà đặt ra một cấu trúc năng lượng phù hợp với nhu cầu phát triển mới. Cụ thể: Đến năm 2030, Quảng Ninh phấn đấu tổng cung năng lượng sơ cấp đạt 28-29 triệu tấn dầu quy đổi; tổng công suất các nguồn điện 9.900-10.700MW; sản lượng điện 45-47 tỷ kWh; tỷ lệ năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp 2,3-2,9%. Cùng với đó là mục tiêu tiết kiệm 9,7% năng lượng so với kịch bản phát triển bình thường và giảm 8% phát thải khí nhà kính từ hoạt động năng lượng.
Các mục tiêu này cho thấy một yêu cầu xuyên suốt của thành phố, đó là nguồn năng lượng phải được chuẩn bị trước một bước so với nhu cầu phát triển. Nếu công nghiệp mở rộng mà hạ tầng điện không theo kịp, nếu đô thị phát triển nhanh nhưng hệ thống phân phối thiếu khả năng dự phòng, hoặc nếu các nguồn năng lượng mới tăng lên nhưng lưới truyền tải không được đầu tư đồng bộ, thì chính năng lực cung ứng năng lượng sẽ trở thành điểm nghẽn của tăng trưởng.
Đó cũng là lý do Kế hoạch 323/KH-UBND dành một nhóm nhiệm vụ riêng cho phát triển nguồn cung và hạ tầng năng lượng, trong đó yêu cầu khẩn trương tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh các dự án nguồn điện và lưới điện truyền tải. Đồng thời thu hút tối đa nguồn vốn tư nhân, đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực năng lượng.
Sau khi Quảng Ninh trở thành thành phố từ ngày 1/9/2026, yêu cầu này càng có ý nghĩa. Một không gian phát triển mới, bao gồm các trung tâm công nghiệp, đô thị, kinh tế cửa khẩu, kinh tế biển, du lịch - dịch vụ và các vùng miền núi, biên giới, đồng nghĩa với một cấu trúc phụ tải đa dạng hơn và yêu cầu cao hơn đối với độ tin cậy của hệ thống năng lượng.
Theo số liệu thống kê mới nhất của Sở Công Thương cho thấy, trong 9 tháng năm 2026, cung cấp điện trên địa bàn được bảo đảm, đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt, không xảy ra tình trạng điện áp thấp hoặc mất điện diện rộng. Sản lượng điện thương phẩm 9 tháng đạt trên 5,6 tỷ kWh, trong khi sản lượng điện sản xuất đạt khoảng 28,5 tỷ kWh (bằng 81,1% kế hoạch năm). Những con số này cho thấy năng lực cung ứng năng lượng hiện tại cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển. Song trước tốc độ mở rộng không gian công nghiệp, đô thị, dịch vụ và kinh tế biển, để bảo đảm năng lượng ổn định, tin cậy cho phát triển, TP Quảng Ninh đang tập trung nâng năng lực cung ứng và truyền tải điện tại những khu vực có tốc độ phát triển công nghiệp, đô thị và dịch vụ cao. Trọng tâm trước mắt là các dự án lưới điện nhằm tăng khả năng mang tải, nâng độ an toàn vận hành và tạo dư địa tiếp nhận phụ tải mới.
Khu vực miền Đông là một trong những nơi thể hiện rõ yêu cầu này. Tốc độ phát triển kinh tế nhanh kéo theo nhu cầu sử dụng điện của các khu công nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt ngày càng lớn. Trong khi đó, hệ thống lưới điện 110kV Quảng Hà - Móng Cái có tổng công suất đặt tại các trạm liên quan khoảng 153MW, công suất thực tế khoảng 120MW. Khi phụ tải tăng cao, nếu một đường dây xảy ra sự cố, phụ tải có thể dồn sang các tuyến còn lại, làm gia tăng nguy cơ quá tải.
Đầu tháng 9/2026, Công ty Điện lực Quảng Ninh phối hợp với các đơn vị triển khai Dự án nâng cao khả năng truyền tải đường dây 110kV Quảng Hà - Móng Cái. Dự án cải tạo gần 34km đường dây, nhằm nâng khả năng truyền tải và độ tin cậy cung cấp điện cho khu vực. Dự kiến dự án hoàn thành trong quý IV/2026 và đưa vào vận hành trong năm 2027.
Khi hoàn thành, dự án sẽ nâng khả năng truyền tải của tuyến 110kV Quảng Hà - Móng Cái, tăng tính linh hoạt trong phương thức vận hành mạch vòng, qua đó củng cố khả năng cung cấp điện an toàn, ổn định cho khu vực miền Đông.
Trước đó, những ngày đầu tháng 9/2026, Công ty Điện lực Quảng Ninh cùng các đơn vị liên quan đã hoàn thành đóng điện giai đoạn 1 hai dự án nâng cao khả năng truyền tải đường dây 110kV Hải Hà - Quảng Hà - Texhong và Hải Hà - Tiên Yên. Các dự án được triển khai nhằm tăng khả năng truyền tải, nâng cao độ an toàn, ổn định của lưới điện 110kV, đáp ứng nhu cầu phụ tải ngày càng tăng tại KCN Hải Hà, KCN Texhong và các khu vực lân cận. Trong giai đoạn 1, các đơn vị đã hoàn thành thay dây trên đoạn tuyến từ cột 1 đến cột 19, là đoạn đường dây đi chung cột của cả hai dự án. Các hạng mục còn lại tiếp tục được triển khai theo kế hoạch, phấn đấu đưa hai dự án vào vận hành đồng bộ trong năm 2026. Việc nâng cấp các tuyến đường dây khu vực Hải Hà - Quảng Hà - Texhong và Hải Hà - Tiên Yên không chỉ đáp ứng nhu cầu phụ tải đang tăng mà còn củng cố năng lực tiếp nhận, truyền tải và phân phối nguồn điện nhập khẩu từ Trung Quốc qua khu vực Móng Cái. Theo phương án hiện nay, quy mô nhập khẩu điện từ Trung Quốc dự kiến khoảng 600MW vào năm 2030 và có thể tăng lên 1.000MW sau năm 2030.
Cùng với đó, các dự án 220kV Nam Hòa, đường dây 220kV Yên Hưng - Nam Hòa, trạm biến áp 220kV Cộng Hòa và các tuyến 110kV tại khu vực miền Tây, các hệ thống lưu trữ năng lượng… đang được triển khai, từng bước hoàn thiện năng lực truyền tải, đáp ứng yêu cầu phát triển của công nghiệp, đô thị và các khu kinh tế.
Tháng 7/2026, đồng chí Trương Thanh Hoài, Thứ trưởng Bộ Công Thương trong buổi làm việc với UBND TP Quảng Ninh về tình hình phát triển năng lượng đã ghi nhận sự chủ động của thành phố trong việc thực hiện Nghị quyết 70-NQ/TW và Điều chỉnh Quy hoạch Điện VIII. Thứ trưởng Bộ Công Thương khẳng định: Việc đẩy nhanh các dự án nguồn và lưới điện chính là cách TP Quảng Ninh đang cụ thể hóa yêu cầu của Nghị quyết 70-NQ/TW trong việc đảm bảo năng lực cung cấp điện và tạo dư địa cho các dự án mới, nhất là những khu vực đang hình thành các cực tăng trưởng công nghiệp và dịch vụ. Việc triển khai các dự án trọng điểm trên địa bàn Quảng Ninh không chỉ góp phần bảo đảm điện cho thành phố mà còn hỗ trợ thực hiện các mục tiêu của Quy hoạch điện VIII điều chỉnh và nâng cao độ an toàn, linh hoạt của hệ thống điện quốc gia.
Bên cạnh các dự án truyền tải, danh mục nguồn điện mới được thành phố chuẩn bị khá bài bản. Các dự án điện gió Quảng Ninh 2, Quảng Ninh 3, Quảng Ninh 5 và một số dự án điện gió tại Bình Liêu, Tiên Yên, Móng Cái đang được thẩm định hồ sơ chấp thuận chủ trương đầu tư. Một số dự án điện mặt trời tập trung cũng được xác định tại Yên Lập, Khe Chè, Quất Đông, Đầm Hà Động và Đầm Hà, với tổng công suất từng dự án từ 50-140MW. Đối với xăng dầu, thành phố đang thúc đẩy đầu tư hạ tầng dự trữ, trong đó dự án kho LPG quy mô 80.000 tấn dự kiến đưa vào hoạt động trong quý IV/2026; kho xăng dầu Yên Hưng dự kiến hoạt động từ quý I/2029
Các dự án này sẽ tạo thêm nguồn cung cho hệ thống, đồng thời từng bước đa dạng hóa cơ cấu nguồn điện. Kế hoạch triển khai Nghị quyết 70-NQ/TW cũng xác định việc khuyến khích phát triển năng lượng tái tạo, điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ, hệ thống lưu trữ điện, phát triển điện từ chất thải và các công nghệ phát thải thấp.
Ở phía lưới điện, cùng với cải tạo các tuyến hiện hữu, thành phố tiếp tục chuẩn bị các công trình nguồn và truyền tải theo quy hoạch, đáp ứng yêu cầu phát triển các khu công nghiệp, đô thị và các trung tâm dịch vụ. Trong Kế hoạch 323/KH-UBND, thành phố yêu cầu các đơn vị liên quan tập trung đẩy nhanh tiến độ các dự án nguồn điện và lưới truyền tải quan trọng, đồng thời cải cách thủ tục đầu tư, rút ngắn thời gian thực hiện các dự án năng lượng. Đây là nền tảng cần thiết khi thành phố phát triển các trung tâm đô thị, khu kinh tế, dịch vụ du lịch, logistics, thương mại biên giới và các ngành kinh tế số. Với những lĩnh vực này, yêu cầu đặt ra không chỉ là có đủ điện mà còn phải bảo đảm chất lượng cung cấp điện, khả năng vận hành ổn định và phục hồi nhanh khi xảy ra sự cố.
Song song với đó, thành phố xác định tiết kiệm năng lượng là một phần trong phương án bảo đảm cung ứng điện. Mục tiêu đến năm 2030 là tiết kiệm 9,7% năng lượng so với kịch bản phát triển bình thường và giảm 8% phát thải khí nhà kính từ các hoạt động năng lượng. Trong tháng 9, Sở Công Thương đã tiếp nhận và thông qua báo cáo kiểm toán năng lượng đối với 2 cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm. Đồng thời tiếp tục thúc đẩy điện mặt trời mái nhà tại cơ quan công sở, trường học, bệnh viện và các cơ sở sản xuất, kinh doanh.
Thống kê đến hết tháng 7/2026, toàn địa bàn đã có gần 1.300 khách hàng đưa hệ thống điện mặt trời mái nhà vào vận hành, tổng công suất khoảng 88,91MWp, trong đó 981 khách hàng sử dụng theo mô hình tự sản xuất, tự tiêu thụ với tổng công suất 85,13MWp. Đây là mô hình phù hợp với tinh thần Nghị quyết 70-NQ/TW và điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh thành phố Quảng Ninh đang mở rộng không gian công nghiệp. Các ngành sản xuất có mức tiêu thụ điện lớn sẽ không chỉ phải quan tâm đến việc có đủ điện để sản xuất, mà còn phải tính đến sản xuất với mức tiêu hao năng lượng thấp hơn trên mỗi đơn vị sản phẩm. Đây là điểm giao giữa bảo đảm an ninh năng lượng và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Trong suốt quá trình triển khai Nghị quyết 70-NQ/TW, thành phố luôn đặt vấn đề năng lượng trong mối quan hệ trực tiếp với không gian phát triển mới. An ninh năng lượng không đứng ngoài quá trình phát triển kinh tế, ngược lại, nó phải trở thành một cấu phần của quy hoạch phát triển. Nguồn điện phải đi trước một bước; lưới điện phải đi cùng nguồn điện; năng lượng mới phải được chuẩn bị cùng với quỹ đất và hạ tầng; còn tiết kiệm năng lượng phải trở thành một yêu cầu trong từng nhà máy, công trình và đô thị.
Đồng chí Lê Văn Ánh, Phó Chủ tịch UBND thành phố
Từ nền tảng của một địa bàn có thế mạnh về năng lượng truyền thống, thành phố Quảng Ninh đang từng bước chuyển sang một cấu trúc năng lượng đa dạng hơn về nguồn, đồng bộ hơn về hạ tầng và hiệu quả hơn trong sử dụng. Việc cụ thể hóa Nghị quyết 70-NQ/TW bằng những dự án, công trình và giải pháp cụ thể đang tạo thêm nền tảng để thành phố bảo đảm năng lượng đi trước một bước, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Thực hiện: Hoàng Nga
Trình bày: Hùng Sơn