Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo vì thế đã xác định rõ quan điểm giáo dục và đào tạo là “quốc sách hàng đầu”, “quyết định tương lai dân tộc”, đồng thời đặt yêu cầu phát triển giáo dục trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia. Quán triệt và cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết, thành phố Quảng Ninh đã và đang tập trung đổi mới tư duy quản lý, nâng cao chất lượng dạy và học, đẩy mạnh chuyển đổi số, chú trọng giáo dục toàn diện và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Những chuyển biến tích cực từ các nhà trường đang từng bước tạo nên những đột phá về chất lượng giáo dục, góp phần hình thành thế hệ công dân có tri thức, kỹ năng, năng lực thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của thời đại, đáp ứng yêu cầu phát triển của thành phố trong giai đoạn mới.
Quán triệt Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 281/NQ-CP của Chính phủ, Quảng Ninh xác định phát triển giáo dục và đào tạo là nhiệm vụ chiến lược, giữ vai trò then chốt trong phát triển nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng tăng trưởng. Thành phố đã kịp thời cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW trong Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 09/12/2025 của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố và Nghị quyết số 318/NQ-HĐND ngày 16/12/2025 của HĐND thành phố và nhiều văn bản chỉ đạo khác.
Ban Thường vụ Thành ủy cũng đã nhanh chóng ban hành Chương trình hành động số 03-Ctr/TU (ngày 13/10/2025) xác định tiếp tục xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội cho phát triển GD&ĐT. Cụ thể, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với phân bổ nguồn lực và tăng cường tự chủ cho các cơ sở giáo dục đi đôi với kiểm tra, giám sát hiệu quả. Thực hiện nguyên tắc “không để ai bị bỏ lại phía sau”, Quảng Ninh bảo đảm chi ngân sách giáo dục đạt tối thiểu 20% tổng chi ngân sách Nhà nước, trong đó chi đầu tư ít nhất 5%...
Việc đổi mới tư duy và hành động của Quảng Ninh được thể hiện rõ nét trước hết ở sự đổi mới mạnh mẽ trong tư duy lãnh đạo, từ phương thức quản lý hành chính sang quản trị hiện đại, kiến tạo phát triển. Đồng thời, đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ về giáo dục và đào tạo.
Một trong những dấu ấn cho thấy tinh thần tiên phong của Quảng Ninh trong thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW là việc sớm triển khai sắp xếp, tinh gọn mạng lưới trường lớp. Khi bắt đầu thực hiện từ năm 2025, chủ trương này từng tạo ra không ít băn khoăn, thậm chí có ý kiến phản đối từ dư luận và một bộ phận cán bộ, giáo viên do lo ngại những tác động đến tổ chức dạy học, đội ngũ và điều kiện học tập của học sinh.
Tuy nhiên, Quảng Ninh vẫn kiên định với định hướng đã lựa chọn, xác định đây là yêu cầu cần thiết để tổ chức lại hệ thống giáo dục theo hướng tinh gọn, hiệu quả và sử dụng tốt hơn các nguồn lực. Thành phố đặt chất lượng giáo dục và quyền lợi của người học làm trọng tâm. Việc sắp xếp được triển khai bài bản, đúng quy trình, tuân thủ nghiêm chủ trương của trung ương và thành phố, phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa bàn. Mục tiêu là không làm gián đoạn, ảnh hưởng đến hoạt động học tập của học sinh, mục tiêu cao nhất là nâng cao chất lượng dạy và học, vì lợi ích của học sinh.
Sau sắp xếp, trên địa bàn thành phố còn 35 đơn vị trực thuộc Sở GD&ĐT, giảm 2 trường THPT và 13 Trung tâm GDNN-GDTX; còn 290 cơ sở giáo dục công lập trực thuộc UBND cấp xã; toàn thành phố giảm 280/570 cơ sở giáo dục (tương ứng 49,12%), bảo đảm tinh gọn đầu mối, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý. Bên cạnh đó, sáp nhập trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh thuộc Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí. Từ thực tiễn tiên phong của Quảng Ninh, năm 2026, việc sắp xếp, sáp nhập các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên và giáo dục nghề nghiệp công lập ở cấp tỉnh, cấp xã cũng đã được triển khai rộng rãi trên phạm vi cả nước.
Để Nghị quyết số 71-NQ/TW đi vào cuộc sống, thành phố còn đi đầu trong cả nước về việc xây dựng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội cho phát triển giáo dục và đào tạo.
Ví dụ như nhóm chính sách hỗ trợ ăn trưa cho trẻ em mầm non và học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số, miền núi, xã đảo và nhóm yếu thế, ưu tiên. Trẻ em mầm non thường trú ở 24 xã vùng đồng bào DTTS và miền núi, xã đảo, 49 thôn vùng đồng bào DTTS và miền núi thuộc 8 xã khác; trẻ em thuộc diện chính sách được hỗ trợ tiền ăn trưa mức 360.000 đồng/trẻ/tháng. Khoảng 18.600 trẻ/năm học được hỗ trợ với kinh phí khoảng 74 tỷ đồng; 44 cơ sở giáo dục mầm non được hỗ trợ kinh phí chi trả nhân viên nấu ăn, điện, nước, tổng kinh phí khoảng 24,7 tỷ đồng.
Học sinh tiểu học đảm bảo điều kiện tương tự như trên được hỗ trợ 400.000 đồng/học sinh/tháng. Khoảng 18.300 học sinh/năm học được thụ hưởng với kinh phí khoảng 65,8 tỷ đồng; 72 cơ sở giáo dục được hỗ trợ kinh phí phục vụ nấu ăn, quản lý học sinh, điện, nước, tổng kinh phí khoảng 23,6 tỷ đồng. Tổng số có khoảng 36.900 trẻ em, học sinh được hỗ trợ, theo học tại 116 cơ sở giáo dục, với tổng kinh phí khoảng 188,1 tỷ đồng/năm học. Việc hỗ trợ đồng thời tiền ăn và điều kiện tổ chức bữa ăn giúp duy trì học 2 buổi/ngày, nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng và thu hẹp chênh lệch điều kiện giáo dục giữa các vùng, nhóm đối tượng trên địa bàn thành phố.
Trường Mầm non Đồn Đạc (xã Ba Chẽ) hiện có 421 trẻ, bố trí tại 10 điểm trường. Điểm xa nhất là Khe Vang, cách điểm trung tâm tới 23 km. Trẻ em học tập tại đây chủ yếu là con em người dân tộc thiểu số. Điều kiện kinh tế của nhiều gia đình sống ở những thôn bản xa xôi còn nhiều khó khăn. Vì vậy, khi thành phố quan tâm chăm lo, hỗ trợ ăn trưa miễn phí cho trẻ, phụ huynh ở đây ai nấy cũng vui mừng vô cùng.
Anh Đặng Phúc Khoa, có con nhỏ đang học tại Trường Mầm non Đồn Đạc (xã Ba Chẽ) phấn khởi nói: Con học ở trường được uống sữa miễn phí, rồi được ăn trưa miễn phí. Thi thoảng tôi có ghé thăm, thấy cơm nóng hổi, đầy đủ chất. Các cô chăm sóc, lo từng bữa ăn, giấc ngủ. Gia đình gửi con đến trường yên tâm lắm. Tôi sẽ đưa cháu đi học đều đặn.
Cô giáo Phạm Thị Huế, Hiệu trưởng Trường Mầm non Đồn Đạc (xã Ba Chẽ) chia sẻ: 100% trẻ em học tại trường đều đang được thụ hưởng chính sách miễn phí tiền ăn trưa từ Nghị quyết số 93/2025/NQ-HĐND. Mỗi em được hỗ trợ số tiền 360.000 đồng/tháng. Chính sách còn hỗ trợ điện, nước, kinh phí cho nhân viên nấu ăn. Ở vùng cao như Ba Chẽ thì khoản hỗ trợ này vô cùng thiết thực, giúp nhiều gia đình giảm một phần chi phí chăm lo cho con. Những bữa ăn trưa miễn phí cho trẻ còn góp phần nâng cao tỷ lệ sĩ số trẻ ra lớp.
Có thể thấy rõ, tinh thần của Nghị quyết số 71 đã và đang được Quảng Ninh cụ thể hóa bằng một hệ thống chính sách khá rộng, hướng tới nhiều nhóm đối tượng. Một loạt những chính sách nhân văn khác đã đi vào cuộc sống, nhận được sự đồng thuận cao trong nhân dân. Như: Hỗ trợ sữa uống miễn phí tại trường cho toàn bộ trẻ em mầm non và học sinh tiểu học; cung cấp miễn phí sách giáo khoa cho học sinh phổ thông, học viên giáo dục thường xuyên; hỗ trợ tổ chức dạy học, chăm sóc trẻ mầm non trong thời gian hè; hỗ trợ ăn, ở tập trung và tổ chức đưa đón học sinh, học viên khó khăn khi đến trường hằng ngày; trợ giúp trẻ em, học sinh không có nguồn nuôi dưỡng đến khi hoàn thành văn bằng đại học thứ nhất.
Quảng Ninh còn hỗ trợ học phí cho học sinh, học viên trung học phổ thông thuộc nhóm yếu thế học tại cơ sở giáo dục tư thục; hỗ trợ 100% kinh phí đóng bảo hiểm bắt buộc cho đội ngũ mầm non dân lập, tư thục. Đặc biệt, thưởng đến 700 triệu đồng cho học sinh đoạt giải quốc tế; học sinh dân tộc thiểu số ở địa bàn khó khăn được thưởng 1,5 lần; hỗ trợ bồi dưỡng học sinh giỏi và thực hiện chính sách ưu đãi đối với Trường THPT Chuyên Hạ Long. Quảng Ninh cũng mua sắm điều hòa cho các cơ sở giáo dục; thí điểm đưa đón học sinh đến trường bằng xe buýt điện.
Nghị quyết số 71-NQ/TW đặt yêu cầu phát triển con người toàn diện, hình thành hệ giá trị con người Việt Nam trong thời đại mới. Quảng Ninh cụ thể hóa định hướng này bằng việc đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục, chú trọng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh và trang bị các kỹ năng cần thiết cho tương lai, từ ngoại ngữ, năng lực số, thể chất, nghệ thuật đến kỹ năng sống, hướng nghiệp và trải nghiệm thực tiễn. Qua đó, từng bước chuẩn bị nguồn nhân lực có kiến thức, kỹ năng và khả năng thích ứng với yêu cầu phát triển mới.
Giáo dục đại trà duy trì vững chắc: 100% trẻ mầm non và học sinh tiểu học học 2 buổi/ngày; 54/54 xã, phường, đặc khu đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học và THCS mức độ 3; xóa mù chữ duy trì mức độ 2. Giáo dục mũi nhọn đạt 82 giải học sinh giỏi quốc gia THPT năm 2026, đưa Quảng Ninh vào tốp 10 địa phương có tỷ lệ học sinh đoạt giải cao nhất cả nước; học sinh đạt 36 giải tại Hội thi An toàn giao thông cấp quốc gia, 3 giải tại Cuộc thi nghiên cứu khoa học, kỹ thuật cấp quốc gia. Thể thao học sinh giành 3 huy chương tại Đại hội Thể thao học sinh Đông Nam Á lần thứ 14 (2 HCV, 1 HCĐ) và 3 HCV tại Giải Thể thao học sinh phổ thông toàn quốc.
Cùng với chất lượng chuyên môn, giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, truyền thống văn hóa và ý thức pháp luật được triển khai theo Đề án giai đoạn 2025-2030. Chuyển đổi số được đẩy mạnh với 100% cán bộ, công chức, viên chức làm việc trên môi trường số; 100% cơ sở giáo dục sử dụng phần mềm quản lý trực tuyến và tuyển sinh đầu cấp trực tuyến; 100% học sinh lớp 12 đăng ký dự thi tốt nghiệp THPT trực tuyến. Giáo dục AI được thí điểm tại 118 cơ sở giáo dục, “Bình dân học vụ số” triển khai tại 100% cơ sở giáo dục. Năm học 2025-2026, ngành Giáo dục và Đào tạo công nhận 609 sáng kiến cấp cơ sở, đề xuất công nhận 49 sáng kiến cấp thành phố và 1 sáng kiến cấp toàn quốc.
Quảng Ninh xác định đội ngũ và cơ sở vật chất là nền tảng để nâng chất lượng giáo dục. Kế hoạch số 148/KH-UBND ngày 6/4/2026 được ban hành để giải quyết tình trạng thiếu giáo viên; Quyết định số 58/2026/QĐ-UBND ngày 29/6/2026 quy định việc điều động, thuyên chuyển nhà giáo. 100% cán bộ quản lý giáo dục được đào tạo lý luận chính trị. Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia đạt 91,6%; 100% phòng học kiên cố. Thành phố đã khởi công 6 trường học tại 6 xã biên giới ngày 9/11/2025.
Giáo dục nghề nghiệp được điều chỉnh theo nhu cầu nhân lực, tập trung các lĩnh vực than - khoáng sản, công nghiệp chế biến, chế tạo, du lịch - dịch vụ và y tế; mạng lưới cơ sở đào tạo được rà soát, sắp xếp theo hướng tinh gọn, nâng cao chất lượng. Ở bậc đại học, Quảng Ninh đạt 235 sinh viên/vạn dân, cao hơn mức bình quân cả nước 215 sinh viên/vạn dân. Trường Đại học Hạ Long được ưu tiên phát triển theo hướng đa ngành, đa lĩnh vực, tăng liên kết doanh nghiệp, hợp tác quốc tế và nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, gắn đào tạo với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.
Thành phố cũng triển khai hiệu quả các hoạt động hợp tác quốc tế trong giáo dục với Nhật Bản, Trung Quốc và các đối tác quốc tế; duy trì chương trình học bổng Quảng Tây, tăng cường hợp tác với Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (Trung Quốc) và hỗ trợ đào tạo, cấp học bổng cho học sinh các tỉnh Bắc Lào (Luông Pha Băng, Xay Nhạ Bu Ly và Hủa Phăn). Qua đó, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, phát triển đội ngũ, mở rộng cơ hội học tập, tiếp cận các xu hướng giáo dục.
Nghị quyết số 71-NQ/TW đặt ra yêu cầu không chỉ tiếp tục “đổi mới căn bản, toàn diện”, mà cần tạo đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Những kết quả đạt được đang cho thấy tinh thần của Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày càng được cụ thể hóa rõ nét trong thực tiễn giáo dục Quảng Ninh. Đổi mới quản trị, tinh gọn hệ thống, ưu tiên và phân bổ hiệu quả các nguồn lực, chuyển đổi số toàn diện, chăm lo giáo dục vùng biên và gắn đào tạo với nhu cầu phát triển nguồn nhân lực… Mỗi chủ trương đang từng bước được chuyển hóa thành những việc làm cụ thể. Những kết quả có thể đo đếm nhìn thấy rõ thay đổi trong thực tiễn.
Nhìn nhận phát triển giáo dục và đào tạo là nhiệm vụ chiến lược, giữ vai trò then chốt trong phát triển nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng tăng trưởng, Quảng Ninh đang từng bước tạo dựng một thế hệ trẻ có tri thức, bản lĩnh, năng động và tiên phong, sẵn sàng thích ứng với yêu cầu của thời đại. Đây cũng là nền tảng để thành phố tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới.
Thực hiện: Lan Anh
Trình bày: Vũ Đức