Yên Hưng từng nổi tiếng là vùng giàu các loài thủy, hải sản, các đặc sản và phong phú các nghề khai thác sản vật đất bãi triều. Hằng năm cứ đến mùa mưa, nước lũ từ thượng nguồn các con sông đổ về sông Bạch Đằng, sông Chanh mang theo phù sa đỏ quạch. Các bờ bãi ven sông lại cơ man những chiếc vó, những chiếc thuyền câu, những chặng đăng đáy, ô cạp... giăng ra chắn bắt cá tôm. Khung cảnh mùa mưa thật náo nức trong sương sớm hoặc dưới ánh chiều chạng vạng. Chợ cá xôn xao trên mặt nước.
Ngay từ thuở xa xưa, con người sinh ra trên vùng sông nước Yên Hưng đã nhiều tài trí, lắm hoa tay. Để bắt con tép, con ốc, con cua, người ta nghĩ ra cái vó, cái giỏ, cái giọng. Muốn bắt con cá, con tôm, người ta biết chuốt nan nứa, nan tre đan cái lờ, cái đó; biết se sợi gai kết cái lưới, cái te... Gần nhà tôi có cha con cụ Xã Xìn, anh em ông Lục Bân giữ nghề đánh "dể" hằng mấy đời. Cái nghề thật kỳ lạ: chỉ cần đóng hai chiếc thuyền dài và hẹp thành cặp dể đi sóng đôi xòe ra như hai lưỡi kéo, quét vôi trắng lên mạn gỗ, chèo thật nhẹ nhàng. Bầy cá kìm, cá đối đang ăn nổi thấy động, lóa mắt, cứ thế nhảy lao xao vào dể như sao sa. Có những con nước, gặp bầy cá lớn nhảy đầy dể, người ta phải chèo chạy vì sợ đắm thuyền...
Dân làng Quỳnh Biểu có nghề chắn đọn thật độc đáo. Lợi dụng con nước thủy triều lên ngập các lũng bãi, người ta cắm cọc gỗ, giăng lưới, chắn bên ngoài và đặt "xăm" đón cửa lạch. Nước rặc, thủy triều trút lại rất nhiều các loại cá lầm, cá lẹp, cá ruội và tôm cua, ghẹ ốc... Các bãi Kênh Tráp, Kênh Ẳng, Bãi Giai, Bãi Vẹt... dài tới hai, ba cây số một khẩu đọn, từng nối đời bao nhiêu bầy đọn của làng. Những năm thập kỷ 60 của thế kỷ trước, làng Quỳnh Biểu nổi tiếng với Hợp tác xã nghề cá Quyết Tiến, là "Lá cờ đầu ngành ngư nghiệp toàn miền Bắc". Nơi đây có lò mắm duy nhất ở Yên Hưng và Quảng Ninh hồi đó; hàng năm sản xuất hàng triệu lít nước mắm ngon không kém nước mắm Cát Hải, Phú Quốc.
Dân làng Hưng Học, Yên Trì, Yên Giang có nghề đắp cạp. Họ ra bãi ven đê đắp bờ ngăn, đặt những chiếc đó to bằng cái bồ thóc xuống các cửa lạch. Thủy triều dâng, cá tôm vào ăn trong bãi. Thủy triều rút, bãi phơi ra dồn cá tôm xuống thón đó. Chỉ thế thôi cũng đằng đẵng nuôi sống hàng đời người. Dân thôn Vị Khê, Lưu Khê nhìn màu nước róc bãi, nhìn màng đất biết dưới lỗ sâu có con cua, con nhệch, con ngán, con bông thùa... mà móc, mà cuốc lên. Con don, con quéo được nhặt về nơi rơm rạ làm ngọt bát canh rau muống, rau mồng tơi. Chỉ dúm don, dúm quéo thôi, nồi canh bắc ra khỏi bếp đã thơm sánh những chiều quê. Người ra thành phố làm việc mỗi lần về cốt xin âu mắm tôm, hũ mắm cáy, chẳng thể quên những thứ sinh từ đất bãi triều.
Khai thác con hà sú nhỏ nhoi cũng là một nghề kiếm sống của người dân xóm Vỏ Hà, xã Phong Hải. Mỗi độ nông nhàn, dân xóm lại đưa từng đoàn thuyền nan ra các bãi sú vẹt ven sông, gạy những vỉa hà dăm bám trên gốc sú dày đặc như những mảng địa y bám thân cây cau. Những con hà sú ruột mềm trắng mọng, có thể ăn tươi sống ngay tại chỗ rất ngon lành. Món hà này thường để ăn gỏi với lá đinh lăng ghém bánh đa có đủ gia vị chua cay, mặn ngọt thật là thú vị. Hoặc nấu riêu với cà chua, thả ngọn rau cần ta, ăn rồi thật khó quên. Bây giờ nhiều nhà hàng đặc sản làm món riêu hà đãi khách, quyến rũ đấy nhưng dù sao vẫn không đậm đặc bằng nồi riêu hà xứ quê như những ngày chưa xa mấy…
Trước đây, bác rể tôi có nghề câu cá vược. Mỗi độ hạ tàn, thu sang là hàng ngày ông cùng bạn câu ra đầu ghềnh Cốc trên bãi sông Rừng, hoặc khi tháo cừ Cống Vông, bắt đầu mùa câu cá vược. Dạo này, nước lũ trên các con sông đổ xuống sông Bạch Đằng, sông Chanh, mang theo phù sa, phù du cùng nước mặn dưới biển dâng lên giao nhau thành từng vệt xuôi ngược tựa những dải lụa, chảy âm vang cả một vùng bãi. Cá vược hội tụ từng đàn đuổi bắt mồi là những đàn cá con ăn nổi xôn xao trên mặt sóng nhuốm hồng. Ngồi câu trên chiếc thuyền nan, chờ hồi lâu, thấy động tay, nghe sần sật cuối đầu dây biết là con vược đã cắn câu, ông thong thả kéo vào, từ từ thu khoảng cách, vần cho con vược mệt nhoài. Liệu cơ chắc ăn, ông mới giật đánh phắt một cái. Con vược rất khỏe, giãy đành đạch, nổi óng ánh những vẩy vàng vẩy bạc...
Những năm đầu thập kỷ 70, vẫn còn thấy những con cá heo lớn bằng con nghé từ ngoài biển bơi vào Bến Ngự Sông Chanh, tới cửa sông Rừng nhào lộn như diễn viên xiếc. Chúng thường bơi sau những chiếc thuyền vận tải căng buồm lướt sóng, như thể muốn bơi thi. Đặc biệt lạ, là vào những ngày mồng một, ngày rằm, cá heo bơi như hội. Khi người đứng trên bờ thích chí vỗ tay thì chúng càng nhào lộn những pha ngoạn mục, phơi lên cái bụng trắng xoá tỏ vẻ điệu đàng hơn!...
Nhưng bây giờ những hình ảnh thân quen ấy đã thưa vắng, hoặc mất hẳn trên vùng sông nước, bãi triều Yên Hưng.
Tất cả những thứ hải vật hấp dẫn ấy của dòng sông, miệt đất bãi triều mà thiên nhiên ban tặng bao đời cho con người vùng quê tôi giờ đây đang lặn dần vào quá vãng, bởi môi trường ngày càng ô nhiễm và sinh thái đang mất cân bằng. Những cánh rừng ngập mặn bạt ngàn như chiếc áo xanh khổng lồ bị bóc dần khỏi vùng đất bãi triều, nhường chỗ cho những khu đầm nuôi tôm trắng nước dưới ánh mặt trời thiêu đốt. Chất thải công nghiệp, rác thải đời sống con người tuôn xả ra các dòng sông, tấp vào các triền bãi. Các loài thủy, hải sản đã thiếu môi trường thủy sinh tốt, lại đang bị con người khai thác đến cạn kiệt bằng mọi phương tiện thủ công và hiện đại để thỏa mãn nhu cầu cuộc sống trước mắt. Mìn nổ, xiếc điện, chã điện ngấm ngầm chăng thả khắp nơi dưới sông, ven bãi. Con giống bị tiêu diệt từ trong trứng. Lưới chì vét sát chân cồn, đáy sông, đánh xong rách lưới vứt đi, chỉ cốt sao vớt lên đầy nặng. Ngày trước, dân các làng Hải Yến, Cẩm La, Vị Khê, Yên Trì... ra các bãi triều soi, bắt hoặc câu cáy bằng dụng cụ thô sơ; con cáy còn có thời gian để sinh sôi, tồn tại. Chỉ ngừng soi bắt một kỳ con nước thôi, là nước sau cáy còng đã ngôm đầy lũng bãi. Một thời người ta dùng cả thuốc trừ sâu bột 666, DDT vãi dọc các bãi để cáy còng say thuốc hàng loạt cho dễ bắt được nhiều hơn. Do vậy các loài này cũng nhanh chóng tiệt giống.
Cuộc sống hiện tại, có cách nào hữu hiệu hơn, mạnh hơn để phát triển trở lại những bãi triều, những cánh rừng ngập mặn trong khi vừa phát triển và sản xuất phục vụ đời sống con người, vừa cân bằng được sinh thái, cho sông nước bãi triều tiếp tục sinh sôi các loài thủy hải sản trong quy luật tự nhiên? Đó là câu hỏi bức xúc của tương lai, là trách nhiệm của các nhà quản lý, các nhà khoa học, của nông dân, của mỗi người chúng ta hôm nay phải chịu trách nhiệm với hậu thế! Bao giờ tấm áo xanh sẽ khoác lại rộng dài và xanh hơn lên cơ thể các bãi triều, các dòng sông?
Dương Phượng Toại