Công tác triển khai lấy ý kiến đóng góp vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng được thực hiện nghiêm túc, dân chủ, công khai, thu hút sự quan tâm và tham gia tích cực của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh, tạo đồng thuận cao trong toàn xã hội. Qua đó góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện dự thảo văn kiện, thực sự là một công trình khoa học kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, niềm tin, khát vọng của cả dân tộc, định hướng cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước, vững bước tiến vào kỷ nguyên mới.
Tại thời điểm lấy ý kiến tham gia vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh có 59 đảng bộ trực thuộc (54 đảng bộ xã, phường, đặc khu; 5 đảng bộ trực thuộc tỉnh) với 600 tổ chức cơ sở đảng (397 đảng bộ cơ sở, 203 chi bộ cơ sở), 3.893 chi bộ trực thuộc và trên 103.500 đảng viên.
Hầu hết các ý kiến tham gia nhất trí và đánh giá cao dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng được chuẩn bị công phu, kỹ lưỡng, có nhiều điểm mới, có tính khái quát cao, kết cấu chặt chẽ, thể hiện đầy đủ, toàn diện những vấn đề lớn của đất nước. Đặc biệt, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 12 (khoá XIII) đồng ý chủ trương hợp nhất nội dung 3 báo cáo (Báo cáo chính trị, Báo cáo kinh tế - xã hội, Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng - nội dung công tác xây dựng Đảng) thành 1 báo cáo trình Đại hội là một bước tiến mới mang tính đột phá, thể hiện tư duy mới, tầm nhìn mới, dám nghĩ, dám làm, mạnh mẽ, quyết liệt. Sự hợp nhất này không chỉ giúp Báo cáo trở lên ngắn gọn, súc tích hơn, mà còn bảo đảm tính đồng bộ, liên thông giữa các lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã hội và công tác xây dựng Đảng, khắc phục tình trạng trùng lặp, phân tán; đồng thời tạo cơ sở để Đại hội thảo luận, quyết nghị trên một chỉnh thể thống nhất về mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
I. DỰ THẢO BÁO CÁO CHÍNH TRỊ CỦA BCH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XIII TRÌNH ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG
1. Các ý kiến tham gia chung: Hầu hết các ý kiến tham gia nhất trí với bố cục dự thảo Báo cáo bảo đảm tính khoa học, ngắn gọn, mạch lạc, chặt chẽ. Trên cơ sở đánh giá kết quả việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và cơ đồ của đất nước sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, dự thảo Báo cáo đã đề ra mục tiêu phát triển chủ yếu 5 năm, giai đoạn 2026 - 2030, xác định mục tiêu, phương hướng và tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2045, nhất là những nhiệm vụ, giải pháp đột phá về phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của nhân dân, dân chủ XHCN và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Văn kiện đã thể hiện việc bảo đảm phát huy cao nhất tinh thần “tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc”; sự đoàn kết thống nhất trong Đảng và đại đoàn kết toàn dân tộc hướng đến xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam vững mạnh, nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
2. Một số ý kiến tham gia cụ thể
2.1. Về đánh giá việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và cơ đồ của đất nước sau 40 năm đổi mới
Đa số các ý kiến tham gia góp ý đồng thuận với nhận định đánh giá tổng quát: “Trong bối cảnh rất nhiều khó khăn, thách thức, với ý chí, khát vọng phát triển, kiến tạo tương lai, quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Đảng ta vững vàng lãnh đạo đất nước tiếp tục đạt được những kết quả rất quan trọng, toàn diện, đột phá, nhiều điểm sáng nổi bật”. Bên cạnh đó, một số ý kiến cho rằng nên bổ sung làm rõ những yếu tố mới, tác động đến phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, như: Chuyển đổi số, công nghệ trí tuệ nhân tạo, sự liên kết đa phương giữa các quốc gia, dịch bệnh toàn cầu, biến đổi khí hậu...
Về kết quả đạt được, hạn chế, yếu kém trên các mặt phát triển kinh tế, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và biến đổi khí hậu; phát triển văn hóa, con người và xã hội; quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị; nguyên nhân và bài học kinh nghiệm sau 40 năm đổi mới: Đa số các ý kiến thống nhất dự thảo đã đánh giá đầy đủ, chính xác kết quả đã đạt được, thẳng thắn chỉ ra tồn tại, hạn chế và nguyên nhân. Bên cạnh đó, có ý kiến tham gia đề nghị cần khẳng định tầm vóc chiến lược của biển, đảo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
2.2. Về quan điểm, mục tiêu xây dựng, phát triển đất nước trong giai đoạn mới
- Dự báo tình hình thế giới và đất nước những năm tới, những thuận lợi, thời cơ đan xen với những khó khăn, thách thức và yêu cầu mới đặt ra: Hầu hết các ý kiến nhất trí với các nội dung dự thảo và cho rằng dự thảo Báo cáo đã trình bày khái quát, rõ ràng, đầy đủ, toàn diện. Trong đó, nhấn mạnh một số vấn đề: Bối cảnh thế giới hòa bình, hợp tác vẫn là xu thế phát triển nhưng xung đột và cạnh tranh vẫn còn phức tạp; cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trí tuệ nhân tạo, kinh tế số, xã hội số, công dân số tiếp tục phát triển mạnh mẽ; cùng thiên tai, dịch bệnh... Về tình hình trong nước, ngoài 4 nguy cơ mà Đảng ta đã dự báo từ Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VII, dự thảo nhấn mạnh hơn một số khó khăn về già hóa dân số, vấn đề bảo vệ chủ quyền, không gian mạng. Có ý kiến đề xuất bổ sung thách thức về: Tác động của trí tuệ nhân tạo đến thị trường lao động; đề cập rõ hơn về diễn biến văn hóa - tư tưởng, nhất là ảnh hưởng của mạng xã hội và mặt trái của tự do ngôn luận... để có cơ chế quản lý phù hợp.
- Về 5 quan điểm chỉ đạo cần được quán triệt thực hiện trong nhiệm kỳ tới và những năm tiếp theo: Hầu hết các ý kiến cho rằng các quan điểm đã bao quát đầy đủ những định hướng chiến lược, bảo đảm sự kế thừa, đồng thời nhấn mạnh các yêu cầu mới. Bên cạnh đó, có ý kiến đề nghị lồng ghép chỉ đạo của Đảng trong Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 59-NQ/TW, Nghị quyết số 66-NQ/TW, Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị để bảo đảm rõ quan điểm của Đảng.
- Về mục tiêu phát triển tổng quát: Hầu hết ý kiến nhất trí với nội dung dự thảo. Có ý kiến đề nghị bổ sung cụm từ “Việt Nam xã hội chủ nghĩa” vào sau cụm từ: “Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc” để khẳng định rõ chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước ta.
- Về các mục tiêu phát triển chủ yếu 5 năm 2026-2030: Hầu hết các ý kiến nhất trí với các mục tiêu phát triển chủ yếu trong giai đoạn 2026-2030 mà dự thảo đã đề ra; đồng thời nhấn mạnh mục tiêu đó bảo đảm tính khả thi, bởi kỷ nguyên vươn mình là kỷ nguyên đột phá trên tất cả lĩnh vực, đột phá về tư duy, nhận thức, đồng thời phải phát huy cao nhất tinh thần, ý chí, sức mạnh của nhân dân...
Một số ý kiến tham gia cụ thể: Đối với chỉ tiêu trong lĩnh vực kinh tế, đề nghị bổ sung một số giải pháp đối với từng chỉ tiêu cụ thể. Đối với chỉ tiêu trong lĩnh vực xã hội, có ý kiến đề xuất bổ sung, nhấn mạnh thêm một số chỉ tiêu, nội dung để thể hiện rõ hơn tinh thần “lấy nhân dân làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của phát triển”.
2.3. Về cấu trúc và nội dung 13 định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2026-2030: Hầu hết ý kiến nhất trí với cấu trúc và nội dung 13 định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2026-2030 để tạo động lực đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới.
- Về tầm quan trọng, tính cấp thiết, nội dung tiếp tục hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế: Hầu hết các ý kiến cho rằng, thời gian qua cả hệ thống chính trị đã tập trung thực hiện chủ trương tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị, sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp. Đây là bước đi đúng đắn và cần thiết trong bối cảnh hiện nay, góp phần tạo ra một hệ thống quản trị linh hoạt, hiệu quả, phục vụ tốt hơn cho người dân và doanh nghiệp.
- Về xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế: Đa số các ý kiến đồng thuận với dự thảo. Một số ý kiến cho rằng cần bổ sung làm rõ mô hình tăng trưởng kinh tế gắn với cơ cấu nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Về phát triển mạnh mẽ, toàn diện văn hóa và con người Việt Nam: Đa số các ý kiến đồng thuận với dự thảo. Một số ý kiến cho rằng cần xây dựng hệ thống văn hóa chuẩn mực con người Việt Nam, đậm đà bản sắc dân tộc trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa của nhân loại; cần có các giải pháp quản lý chặt chẽ văn hóa giải trí, văn hóa xã hội bảo đảm thuần phong mỹ tục, đặc biệt trong thời kỳ bùng nổ CNTT; xây dựng thêm nhiều chương trình, hoạt động văn hóa có sức thu hút, hiệu ứng xã hội gắn liền với sự phát triển kinh tế của từng vùng miền.
- Về xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới: Một số ý kiến cho rằng cần tiếp tục đổi mới giáo dục theo hướng hiện đại, thiết thực bảo đảm phù hợp với lứa tuổi, trình độ, ngành nghề; cần thực hiện phương pháp học đi đôi với hành, vận dụng kiến thức trong chương trình với thực tiễn khoa học, xã hội. Cùng với đó là áp dụng các chương trình học, nội dung đào tạo mới, cải tiến và xây dựng các chương trình học phù hợp, đầu tư vào biên soạn sách giáo khoa, giáo trình...
- Về đột phá phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia: Đa số ý kiến cho rằng đột phá về KHCN, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số chính là động lực then chốt, là nhiệm vụ tiên quyết, tạo nền tảng, thời cơ tốt nhất để xây dựng đất nước phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới. Các định hướng đề ra trong mục này đã thể hiện xuyên suốt việc chuyển đổi số trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ quản trị quốc gia đến phát triển kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh và giải quyết những vấn đề xã hội.
- Về quản lý phát triển xã hội bền vững, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, chăm lo đời sống nhân dân; bảo đảm an sinh, phúc lợi xã hội, an ninh xã hội và an ninh con người: Có ý kiến đề nghị cần nhấn mạnh cơ chế an sinh linh hoạt, hỗ trợ nhóm dễ bị tổn thương, mở rộng BHXH tự nguyện; tích hợp quản lý xã hội truyền thống với quản lý xã hội trên không gian mạng.
- Về quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu: Nhiều ý kiến cho rằng cần nhấn mạnh thêm ở nội dung đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường, nhất là trong công tác thu gom, xử lý chất thải rắn, phân loại rác thải ngay từ đầu nguồn và có quy định xử phạt phù hợp về việc phân loại rác thải góp phần bảo đảm môi trường xanh - sạch - đẹp.
- Về tăng cường quốc phòng, an ninh: Có ý kiến đề nghị bổ sung vai trò của an ninh mạng, an ninh dữ liệu quốc gia, bảo vệ chủ quyền số; nhấn mạnh xây dựng “thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận lòng dân” trên biển, đảo.
- Về đẩy mạnh triển khai đồng bộ, sáng tạo hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế: Các ý kiến tham gia đều đồng thuận với dự thảo.
- Về phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của nhân dân, dân chủ XHCN và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc: Có ý kiến đề nghị bổ sung nội dung cho phù hợp định hướng tại Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 của BCH Trung ương Đảng khóa XIII "Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045".
- Về tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam: Có ý kiến đề xuất nghiên cứu bổ sung nội dung “Xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan tư pháp trên cơ sở bảo đảm tính độc lập của các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử nhằm bảo đảm nguyên tắc thượng tôn pháp luật và sự lãnh đạo của Đảng để xây dựng và bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa” nhằm tăng cường hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan tư pháp, khắc phục tình trạng chồng chéo, cục bộ trong thực thi pháp luật.
- Về tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện; nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền của Đảng: Có ý kiến đề nghị, bên cạnh quan tâm phát triển đảng viên trong công nhân, cán bộ quản lý doanh nghiệp, khu vực ngoài nhà nước… cần bổ sung đối tượng là học sinh, sinh viên nhằm tăng cường “sức trẻ” cho Đảng, tạo nguồn cán bộ kế cận, bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ cán bộ, đảng viên.
- Về xác định 6 nhiệm vụ trọng tâm và 3 đột phá chiến lược: Đa số các ý kiến nhất trí cao. Một số ý kiến đề nghị bổ sung các nội dung:
+ Đột phá về hoàn thiện thể chế: Đề nghị cần đơn giản hóa TTHC, tạo môi trường đầu tư - kinh doanh thuận lợi. Nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật, phòng chống lợi ích nhóm, tiêu cực. Hoàn thiện cơ chế phân cấp, phân quyền giữa trung ương và địa phương đi đôi với kiểm tra, giám sát chặt chẽ.
+ Đột phá về phát triển hạ tầng: Đề nghị tập trung đầu tư các công trình trọng điểm, như đường cao tốc, cảng biển, logistics, năng lượng sạch. Đẩy nhanh xây dựng hạ tầng số, đặc biệt tại nông thôn và vùng sâu vùng xa. Đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư, tăng cường đối tác công tư (PPP) minh bạch, hiệu quả.
+ Đột phá về nguồn nhân lực: Đề nghị cần đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, tăng gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp. Tập trung phát triển nhân lực chất lượng cao trong các ngành công nghệ, kỹ thuật, trí tuệ nhân tạo, năng lượng mới. Chú trọng đào tạo lại, nâng cao kỹ năng cho lực lượng lao động trong quá trình chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.
2.4. Về Chương trình hành động của BCH Trung ương Đảng thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng
Các ý kiến tham gia thống nhất cao với các nội dung trong dự thảo cũng như việc xây dựng các phụ lục chi tiết và giao nhiệm vụ cụ thể cho từng ngành, địa phương trong triển khai thực hiện.
Bên cạnh đó có một số ý kiến tham gia đề nghị xem xét biên tập nội dung chương trình hành động và nội dung trong Phụ lục 3 theo nguyên tắc chỉ nêu những phần nhiệm vụ chung, tổng thể, quan trọng; có thời hạn thực hiện, xác định nguồn lực theo quy định để kiểm đếm, đánh giá được kết quả.
II. DỰ THẢO BÁO CÁO TỔNG KẾT MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI THEO ĐỊNH HƯỚNG XHCN TRONG 40 NĂM QUA Ở VIỆT NAM
1. Các ý kiến tham gia chung: Hầu hết ý kiến tham gia cơ bản thống nhất nhận định bối cảnh thế giới, khu vực và trong nước 40 năm qua; nhất trí với đánh giá về sự phát triển nhận thức, lý luận của Đảng qua 40 năm đổi mới; những thành tựu trong thực tiễn xây dựng CNXH và những đề xuất quan điểm, định hướng nhiệm vụ, giải pháp tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn tới. Nội dung Báo cáo thể hiện tư duy đổi mới, linh hoạt, có tính hệ thống, nhất quán về mục tiêu, nhưng không rập khuôn, máy móc, kết hợp giữa kiên định mục tiêu XHCN với linh hoạt vận dụng các yếu tố của kinh tế thị trường hiện đại, mở cửa hội nhập quốc tế. Báo cáo cũng đề xuất nhiều vấn đề lớn mang tầm chiến lược, như phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, phát triển văn hóa, con người, giữ vững quốc phòng - an ninh và vai trò lãnh đạo của Đảng.
2. Một số ý kiến tham gia cụ thể
2.1. Về bối cảnh thế giới, khu vực và trong nước tác động đến Việt Nam qua 40 năm đổi mới: Hầu hết các ý kiến tham gia thống nhất với nhận định, đánh giá trong dự thảo Báo cáo.
2.2. Về sự phát triển nhận thức lý luận của Đảng qua 40 năm đổi mới: Đa số các ý kiến tham gia nhất trí với đánh giá về những kết quả chủ yếu trong phát triển nhận thức, lý luận của Đảng. Các ý kiến khẳng định việc chỉ ra những kết quả chủ yếu này là rất cần thiết, làm nổi bật bước tiến về tư duy lý luận gắn với tổng kết thực tiễn, đồng thời bao quát đầy đủ các lĩnh vực trọng yếu: Kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại và xây dựng Đảng, hệ thống chính trị. Bên cạnh đó, có ý kiến đề nghị bổ sung quá trình điều chỉnh nhận thức lý luận để thấy được sự thay đổi này là tất yếu, phù hợp quy luật khách quan của sự phát triển.
2.3. Về những thành tựu, hạn chế và bài học kinh nghiệm được đúc rút trong thực tiễn xây dựng CNXH Việt Nam
Đa số các ý kiến tham gia thống nhất với các nội dung đánh giá trong dự thảo Báo cáo về những thành tựu, hạn chế chủ yếu. Tuy nhiên, về đánh giá thành tựu trong công tác dân vận, xây dựng mối quan hệ mật thiết với nhân dân, có ý kiến đề nghị đánh giá thêm về công tác tuyên giáo.
Về nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế trong phát triển kinh tế; văn hóa, xã hội, con người; quốc phòng - an ninh và đối ngoại; xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, hầu hết các ý kiến thống nhất đánh giá dự thảo Báo cáo. Ngoài ra, về hạn chế trong xây dựng tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên có ý kiến đề nghị bổ sung: “Còn một bộ phận đảng viên chưa thực hiện đầy đủ nội dung quy định và Điều lệ Đảng, giảm sút ý chí chiến đấu, việc đấu tranh tự phê bình và phê bình còn có biểu hiện nể nang”.
Về bài học rút ra qua 40 năm đổi mới: Đa số các ý kiến tham gia khẳng định 5 bài học đã nêu là chính xác và có tính tổng kết cao. Tuy nhiên, có ý kiến đề nghị bổ sung nội dung về tăng cường kỷ luật, minh bạch, công khai trong quản lý và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
2.4. Về dự báo tình hình, quan điểm và các định hướng giải pháp tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới: Đa số các ý kiến tham gia thống nhất với dự thảo Báo cáo. Có ý kiến đề nghị đối với mục tiêu tăng trưởng 2 con số cần được thuyết minh rõ hơn về cơ sở thực tiễn và kịch bản tăng trưởng; đối với định hướng nhiệm vụ, giải pháp phát triển, đề nghị phân định rõ các giải pháp đột phá theo từng lĩnh vực.
III. DỰ THẢO BÁO CÁO TỔNG KẾT 15 NĂM THI HÀNH ĐIỀU LỆ ĐẢNG (2011-2025) VÀ ĐỀ XUẤT ĐỊNH HƯỚNG BỔ SUNG, SỬA ĐỔI ĐIỀU LỆ ĐẢNG
1. Các ý kiến tham gia chung: Đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia góp ý cơ bản nhất trí với các nội dung đánh giá trong dự thảo Báo cáo và đề xuất định hướng bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng. Các ý kiến đều cho rằng dự thảo Báo cáo đã đánh giá toàn diện, nghiêm túc và thực chất công tác thi hành Điều lệ Đảng 15 năm qua.
2. Một số ý kiến tham gia cụ thể
2.1. Về kết quả, hạn chế và những nhận định đánh giá về công tác quán triệt, cụ thể hóa, kiểm tra, giám sát thi hành Điều lệ Đảng trong 15 năm (2011-2025): Đa số các ý kiến tham gia nhất trí cho rằng dự thảo Báo cáo đã đánh giá đầy đủ, phản ánh đúng, sát với thực tiễn. Tuy nhiên, có ý kiến đề nghị bổ sung đánh giá về ý thức học tập lý luận chính trị, tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên; việc tự kiểm tra, giám sát…
2.2. Nhận định đánh giá về việc thực hiện tôn chỉ, mục đích, bản chất giai cấp, nguyên tắc tổ chức, nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng: Đa số các ý kiến thống nhất với nhận định, đánh giá đã đầy đủ, phản ánh đúng, sát với thực tiễn. Có ý kiến bổ sung, đề nghị nhấn mạnh hơn vai trò của nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; coi đây là “cơ chế tự chỉnh đốn” để Đảng luôn giữ vững bản chất cách mạng và khoa học.
2.3. Kết quả và những nhận định, đánh giá cụ thể về việc thi hành các nội dung của Điều lệ Đảng và các quy định, hướng dẫn cụ thể về thi hành Điều lệ Đảng: Đa số các ý kiến nhất trí với dự thảo. Một số ý kiến đề nghị trong Báo cáo cần làm rõ kết quả của công tác phát triển đảng viên, quản lý, sàng lọc, nâng cao chất lượng đảng viên, coi đây là nội dung then chốt để tăng cường sức chiến đấu của tổ chức đảng.
2.4. Đánh giá chung về những ưu điểm, hạn chế, vướng mắc bất cập trong thi hành Điều lệ Đảng, hướng dẫn thi hành Điều lệ Đảng: Hầu hết các ý kiến tham gia nhất trí với dự thảo. Có nhiều ý kiến đề xuất bổ sung các giải pháp về đổi mới sinh hoạt Đảng; về tuổi kết nạp đảng viên; về quy định thu, trích nộp đảng phí để phù hợp với điều kiện thực tiễn, bảo đảm hoạt động của các tổ chức đảng.