Dấu ấn 5 năm phát triển vùng dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Ninh

Dấu ấn 5 năm phát triển vùng dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Ninh

Cover

Trong quá trình phát triển, Quảng Ninh luôn xác định vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới và hải đảo là những khu vực còn nhiều khó khăn cần được ưu tiên hỗ trợ. Từ thực tế đó, ngày 17/5/2021, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TU nhằm tập trung nguồn lực, chính sách và các chương trình phù hợp cho những địa bàn này. Kể từ khi nghị quyết được triển khai, nhiều địa phương đã có những đổi thay rõ rệt; đời sống người dân được nâng lên; khoảng cách phát triển giữa các vùng từng bước được thu hẹp. Những kết quả này đã tạo thêm động lực để Quảng Ninh tiếp tục hướng tới mục tiêu phát triển đồng đều và bền vững trong thời gian tới.

Ảnh trong văn bản

Cách đây 5 năm, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh ban hành Nghị quyết 06-NQ/TU, ngày 17/5/2021 về phát triển bền vững kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm vững chắc quốc phòng - an ninh ở các xã, thôn, bản vùng đồng bào DTTS, miền núi, biên giới, hải đảo giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030. Đây là nghị quyết đầu tiên và chiến lược, thể hiện sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị  trong việc xây dựng, phát triển vùng đồng bào DTTS, miền núi, biên giới, hải đảo một cách bền vững trên mọi lĩnh vực, nâng cao chất lượng cuộc sống và mang lại hạnh phúc cho người dân; từng bước hiện thực hóa khâu đột phá về phát triển văn hóa giàu bản sắc Quảng Ninh gắn với thu hẹp nhanh khoảng cách giàu nghèo và chênh lệch vùng miền trong tỉnh mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV đã quyết nghị. Đồng thời, cụ thể hóa 3 Chương trình MTQG giai đoạn 2021-2025.  Ngay sau khi ban hành, Nghị quyết đã được quán triệt sâu rộng đến toàn hệ thống chính trị,  tổ chức thành chương trình hành động cụ thể với 21 nhóm mục tiêu, 73 nhiệm vụ và lộ trình thực hiện rõ ràng.

Giai đoạn 2021-2025, tỉnh Quảng Ninh đã huy động trên 120 nghìn tỷ đồng thực hiện Nghị quyết số 06 và 3 chương trình mục tiêu quốc gia. Nổi bật trong đó là nguồn vốn xã hội hóa chiếm đến 84%, chủ yếu từ vốn tín dụng. Doanh số cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh đạt trên 97,4 nghìn tỷ đồng. Các chương trình hỗ trợ sản xuất, chuyển giao khoa học kỹ thuật, đào tạo nghề được triển khai linh hoạt, phù hợp với điều kiện từng địa phương.

Ảnh với chú thích
Tuyến đường tỉnh lộ 31 cũ nối xã Đoàn Kết với xã Vạn Yên, huyện Vân Đồn (nay là đặc khu Vân Đồn) đoạn qua thôn Khe Ngái được đầu tư xây dựng mới tạo thuận lợi cho người dân trong việc đi lại.

Từ sự tiếp sức của tỉnh, đặc biệt là nguồn vốn tín dụng, nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số ở các địa phương trong tỉnh đã mạnh dạn chuyển mình, phát triển nhiều mô hình kinh tế mới, mang lại thu nhập ổn định. Nhiều hộ vượt mức thu nhập 300 triệu đồng/năm. Như mô hình nuôi cá tầm nước lạnh của nông dân Chạc A Sặp ở xã Quảng Tân là một ví dụ tiêu biểu. Nhận thấy tiềm năng từ mô hình nuôi cá nước lạnh, được sự khuyến khích, tạo điều kiện của chính quyền địa phương, đầu năm 2024, ông Sặp cùng một người bạn mạnh dạn đầu tư cải tạo đất đồi, xây dựng hệ thống ao đất phủ bạt để nuôi thử nghiệm 3.000 con cá tầm giống.

Sau 1 năm nuôi thử nghiệm, mô hình này đã cho thấy hiệu quả với đầu ra khá rộng mở với giá bán khoảng 700.000-1triệu đồng/con cá thương phẩm và 10.000-15.000 đồng/con cá giống. Tiếp đà phát triển thuận lợi, đầu năm 2025, ông Sặp quyết định đầu tư thêm 3 tỷ đồng, mở rộng quy mô bể và hệ thống cấp thoát nước, hình thành trang trại nuôi cá tầm với 80 bể nuôi cả cá giống và cá thương phẩm. Trang trại này cũng đang tạo việc làm cho gần 10 nhân công với mức thu nhập 7-9 triệu đồng/tháng. Ông Sặp cho biết: Giống cá tầm hợp với nơi có nguồn nước lạnh, nên có tiềm năng phát triển. Hiện tại, tôi đang có hướng mở rộng thêm diện tích nuôi cá thương phẩm để tăng thu nhập và tạo thêm nhiều việc làm cho bà con.

Tại xã Bình Liêu, gia đình chị Trần Thị Vân huy động 5 lao động trong gia đình, tiếp cận nguồn vốn vay giải quyết việc làm theo Nghị quyết 06 của tỉnh, với mức vay tối đa 100 triệu đồng/người lao động, tổng cộng 500 triệu đồng. Số vốn này được chị mạnh dạn đầu tư vào mô hình trồng nho sữa Hàn Quốc, hiện nay đã bước sang vụ thu hoạch thứ 2, dự kiến cho khoảng 2 tấn quả, mang lại doanh thu 300 – 400 triệu đồng/năm. Chị Trần Thị Vân chia sẻ: Gần đây nhất, chúng tôi vay được 500 triệu đồng cho 5 lao động để đầu tư vào mô hình nho sữa này. Vườn nho không chỉ thu hút hàng trăm lượt khách mà còn tạo việc làm ổn định cho 5 nhân công với thu nhập 200-250 nghìn đồng/ngày.

Ảnh với chú thích
Mô hình trồng nho sữa của gia đình chị Trần Thị Vân, xã Bình Liêu.

Việc người dân được hỗ trợ cho vay vốn tín chấp với mức vay tối đa là 100 triệu đồng, không cần có tài sản đảm bảo tiền vay, phù hợp khả năng tổ chức sản xuất kinh doanh, lãi suất cho vay thấp, thời gian vay dài tới 10 năm đã khuyến khích thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh, tạo sinh kế, việc làm tăng thu nhập ổn định cuộc sống cho người dân, khai thác và phát huy được tiềm năng lợi thế đặc thù của vùng dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới hải đảo; đồng thời thúc đẩy công tác giảm nghèo bền vũng, xây dựng nông thôn mới, bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng an ninh và được nhân dân đồng thuận cao, gắn kết ý Đảng lòng dân.

Giai đoạn 2021 đến thang 4/2025, nguồn vốn tín dụng chính sách triển khai tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo của tỉnh Quảng Ninh được huy động từ nhiều kênh. Trong đó, nguồn vốn Trung ương cấp đạt 1.752 tỷ đồng, còn nguồn vốn địa phương ủy thác thông qua ngân sách tỉnh là 304,882 tỷ đồng. Đây là nguồn lực tài chính quan trọng, được phân bổ hợp lý và đưa trực tiếp đến tay người dân, đặc biệt là những hộ nghèo, cận nghèo và các đối tượng chính sách khác, hỗ trợ đắc lực cho việc tạo việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống và thúc đẩy sự phát triển bền vững tại các vùng khó khăn.

Nhờ đó, 5 năm qua, toàn tỉnh đã có hơn 138.280 lượt hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách được tiếp cận vốn vay ưu đãi, qua đó tạo việc làm cho gần 87.000 lao động. Những đồng vốn ấy đã trở thành “cần câu”, giúp người dân chủ động sinh kế, vươn lên thoát nghèo bền vững. 

Ảnh trong văn bản

Cùng với hỗ trợ sản xuất, tỉnh Quảng Ninh còn đặc biệt quan tâm đầu tư phát triển, hoàn thiện kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội vùng đồng bào DTTS, miền núi, biên giới, hải đảo theo hướng đồng bộ, hiện đại, liên thông, tổng thể, tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển bền vững. Trên quan điểm xuyên suốt “không để ai bị bỏ lại phía sau”, giai đoạn 2021-2025 tỉnh đã ưu tiên bố trí ngân sách đầu tư phát triển hạ tầng với  301 dự án giao thông, 125 dự án thủy lợi, 56 công trình cấp nước sinh hoạt, 64 dự án giáo dục, 138 dự án văn hóa… cùng nhiều công trình thiết thực khác. Song song với đó là nhiều cơ chế, chính sách về y tế, nhà ở, điện, nước sinh hoạt, việc làm, tín dụng chính sách xã hội được ban hành và triển khai kịp thời…. Những nỗ lực này không chỉ thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền, mà còn tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của tỉnh. Đến nay, tỷ lệ dân số được phủ sóng mạng di động 4G đạt 100%; 100% số hộ dân được sử dụng điện an toàn; tỷ lệ hộ DTTS sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 100%.

Ông Bàn Dẩu Tình, Bí thư Chi bộ, Trưởng khu 10 Mông Dương, phường Mông Dương chia sẻ: Trước đây thiếu sóng điện thoại khiến việc tuyên truyền chủ trương, chính sách đến bà con gặp nhiều khó khăn. Giờ có sóng, thông tin thuận lợi hơn, bà con chủ động cập nhật tin tức, phát triển kinh tế. Ai cũng phấn khởi và tin tưởng vào lãnh đạo của chính quyền. 

Ảnh với chú thích
Dự án đường tỉnh 342 nối TP Hạ Long với huyện Ba Chẽ và tỉnh Lạng Sơn được hoàn thành thi công vào giữa năm 2024 tạo điều kiện thúc đẩy phát triển KTXH vùng DTTS trên địa bàn tỉnh.

Thời gian qua, tỉnh cũng đã ban hành chính sách đặc thù hỗ trợ 100% thẻ BHYT cho hơn 70.000 người DTTS tại các xã mới ra khỏi diện đặc biệt khó khăn đến hết năm 2025. Hệ thống y tế cơ sở được củng cố. Các đề án chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em và nâng cao thể trạng, tầm vóc người DTTS được triển khai đồng bộ, bài bản. 

Trên lĩnh vực giáo dục, Quảng Ninh đầu tư mạnh mẽ cho trường học vùng sâu, vùng xa, đảm bảo học sinh được học trong điều kiện tốt nhất. Chính sách phân luồng học sinh sau THCS, tư vấn nghề nghiệp, đào tạo nghề gắn với nhu cầu thị trường lao động đã mở ra cơ hội việc làm bền vững cho thanh niên vùng DTTS. Tỉnh cũng tiên phong trong việc thu hút, đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ người DTTS, từ đó nâng cao năng lực quản trị tại cơ sở. Giai đoạn 2021-2025 tỉnh đầu tư sửa chữa, nâng cấp 24 trường học các cấp; hỗ trợ các địa phương đầu tư mới các trường theo tiêu chí chất lượng cao; hoàn thiện đưa vào sử dụng 3 công trình y tế lớn và nâng cấp các thiết chế y tế tuyến tỉnh, tuyến huyện và cơ sở phục vụ tốt chăm sóc sức khỏe nhân dân. 

Ảnh với chú thích
Nhân dân trên địa bàn xã Quảng Đức được tuyên truyền về BHYT tự nguyện.

Cùng với đó, việc khôi phục và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống được đặc biệt quan tâm. Tỉnh đã phê duyệt các đề án phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc. Các địa phương vùng cao, biên giới, đồng bào DTTS trở thành điểm đến hấp dẫn với các sản phẩm du lịch mang đậm dấu ấn bản địa như Lễ hội Soóng Cọ, chợ phiên vùng cao, các làng văn hóa dân tộc Dao, Tày, Sán Chỉ... Cụ thể như tại Bản Cáu, xã Lục Hồn, người Tày nơi đây đã chỉnh trang nhà cửa thành điểm tham quan cho du khách có nhu cầu tìm hiểu về đời sống văn hóa, kiến trúc nhà ở truyền thống của người Tày. Các hộ gia đình người Tày ở thôn Bản Cáu duy trì thực hiện các phong tục truyền thống, tập quán tốt đẹp trong các dịp lễ hội, Tết Nguyên đán, ngày 5/5 âm lịch, ngày 14/7 âm lịch, nghi lễ Mừng cơm mới...Câu lạc bộ hát Then không chỉ biểu diễn, mà còn là nơi dạy đàn Tính cho lớp trẻ.  

Tại làng người Sán Chỉ ở Lục Ngù, xã Bình Liêu, nhà cổ của người Sán Chỉ được giữ gìn như chứng tích sống động của một nền văn hóa. Trang phục dân tộc được khuyến khích mặc trong sinh hoạt thường ngày, lao động sản xuất, các cơ sở may quần áo truyền thống của người Sán Chỉ được duy trì... Hội Soóng Cọ được tổ chức thường kỳ, gắn với các hoạt động du lịch đã tạo dấu ấn riêng cho du lịch cộng đồng nơi đây.

Ảnh với chú thích
Nghi thức nhảy lửa trong lễ hội Bàn Vương. Ảnh: Phạm Lợi (CTV)

Nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp gắn với du lịch trải nghiệm cũng đã được triển khai như: trồng nho Mẫu Đơn, mận tam hoa, hồi ghép tại xã Lục Hồn, Hoành Mô; trồng cam ở Đặc khu Vân Đồn, chè ở xã Đường Hoa, vườn hoa Cao Sơn xã Hoành Mô... Các mô hình này không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế mà còn tạo điểm nhấn cho phát triển du lịch nông nghiệp, làng nghề. Đến nay, toàn tỉnh có 405 sản phẩm OCOP đạt từ 3-5 sao, 100% sản phẩm được đưa lên sàn thương mại điện tử. Nhiều hợp tác xã tiên phong kết hợp nông nghiệp với du lịch cộng đồng, trở thành điểm đến hấp dẫn như: HTX Nông dược xanh, HTX hoa Bình Liêu, HTX cam Vạn Yên; du lịch Làng quê Yên Đức; du lịch trải nghiệm gốm sứ; khu nuôi cấy ngọc trai.. 

Đến nay, Quảng Ninh đã hoàn thành mục tiêu chung và 21/25 chỉ tiêu cụ thể của Nghị quyết 06, 4 chỉ tiêu còn lại đang trong đúng lộ trình để đạt hoặc vượt trong năm 2025. Tỉnh đã hoàn thành sớm chương trình xây dựng nông thôn mới ở các cấp; về đích trước 3 năm chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 – 2025; không còn hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn quốc gia và chuẩn riêng của tỉnh.  Tính đến hết năm 2024, thu nhập bình quân đầu người tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đã đạt 83,79 triệu đồng/người/năm, tăng 40,09 triệu đồng so với năm 2020, tương đương gấp 1,9 lần. Con số này đồng nghĩa với việc tỉnh đã hoàn thành 95,87% mục tiêu Nghị quyết 06 đề ra cho cả giai đoạn, chỉ còn một khoảng cách rất ngắn để cán đích. Đây là minh chứng rõ ràng cho hiệu quả của chuỗi chính sách đồng bộ, từ hỗ trợ hạ tầng, chuyển giao kỹ thuật, đào tạo nghề, đến triển khai vốn tín dụng ưu đãi một cách linh hoạt, đúng đối tượng, đúng nhu cầu sản xuất. 

Ảnh với chú thích
Lục Hồn rực rỡ với Lễ hội mùa Vàng 2025

Hướng tới chặng đường mới, Quảng Ninh xác định nhiệm vụ trọng tâm là thu hẹp khoảng cách giàu nghèo và chênh lệch vùng miền; nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo và dịch vụ y tế; bảo đảm phát triển toàn diện đời sống Nhân dân. Những chỉ tiêu cụ thể thể hiện rõ quyết tâm:  GRDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt trên 20.000 USD. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo đến năm 2030 đạt trên 90%, trong đó tỷ lệ lao động đã qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt trên 48%. Tỷ lệ thất nghiệp dưới 2%. Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia đạt trên 95%. Đạt 68,2 giường bệnh/1 vạn dân; 19 bác sỹ/1 vạn dân; 7,9 dược sỹ đại học/1 vạn dân; 33 điều dưỡng/1 vạn dân; tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt trên 97%. Quảng Ninh phấn đấu chỉ số phát triển con người (HDI) của tỉnh ở nhóm 5 tỉnh, thành phố đứng đầu cả nước; tuổi thọ trung bình người dân trên 77 tuổi. Toàn tỉnh không còn hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia. Đây là cam kết mạnh mẽ vì một Quảng Ninh tiếp tục phát triển nhanh, bền vững.

Thực hiện: Minh Nguyệt
Trình bày: Vũ Đức

Cùng chuyên mục