Để người dân “vùng khó” phát triển sinh kế bền vững

Để người dân “vùng khó” phát triển sinh kế bền vững

Cover

Phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS-MN) tiếp tục được tỉnh Quảng Ninh xác định là một trong những nhiệm vụ chiến lược. Trong giai đoạn 2021-2025, tỉnh Quảng Ninh đã ưu tiên nhiều chính sách để phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới và hải đảo, đặc biệt là việc triển khai Nghị quyết số 06-NQ/TU của Tỉnh ủy. Nghị quyết đã đi vào thực tiễn và mang lại hiệu quả rõ rệt, nhất là về mặt phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của người dân “vùng khó”, giúp thu hẹp khoảng cách giữa các vùng miền và tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững.

Ảnh trong văn bản

Sau khi Quốc hội ban hành Nghị quyết số 88/2019/QH14 về phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021-2030, Tỉnh ủy Quảng Ninh đã ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 17/5/2021 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh lần thứ XV. HĐND tỉnh đã kịp thời ban hành nhiều nghị quyết về phân bổ ngân sách, cơ chế đặc thù, chính sách hỗ trợ sinh kế, hạ tầng, y tế, giáo dục phù hợp đặc điểm vùng cao, vùng sâu, vùng đồng bào DTTS, nổi bật là Nghị quyết số 16/NQ-HĐND (ngày 16/7/2021) phê duyệt Chương trình tổng thể phát triển bền vững kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm vững chắc quốc phòng - an ninh ở các xã, thôn, bản vùng đồng bào DTTS, miền núi, biên giới, hải đảo tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2021-2025, định hướng 2030. UBND tỉnh chủ trì điều hành thực hiện đề án, nghị quyết với tinh thần hành động quyết liệt, sát thực tế, xây dựng kế hoạch chi tiết đến từng xã, từng thôn, tập trung ưu tiên nguồn lực cho những vùng khó khăn nhất.

Ảnh với chú thích
Nhiều công trình hạ tầng được xây dựng, phục vụ đời sống dân sinh, phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS. Ảnh: Trần Thanh

Ngay sau khi ban hành, Nghị quyết số 06-NQ/TU đã được quán triệt sâu rộng đến toàn hệ thống chính trị, tổ chức thành chương trình hành động và có lộ trình thực hiện rõ ràng.

Với quyết tâm và cách làm linh hoạt, giai đoạn 2021-2025, Quảng Ninh đã huy động hơn 120.000 tỷ đồng để triển khai các chương trình phát triển vùng khó. Quảng Ninh xác định kiên trì phương châm “lấy đầu tư công dẫn dắt đầu tư, do đó trong tổng số tiền huy động vốn ngân sách nhà nước chỉ chiếm khoảng 16%, còn lại là xã hội hóa và tín dụng chính sách. 

Ảnh với chú thích
Cán bộ Ngân hàng CSXH chi nhánh Quảng Ninh giải ngân cho người dân vay vốn tín dụng chính sách.

Theo Ngân hàng Chính sách xã hội, nguồn vốn ngân sách địa phương ủy thác qua ngân hàng để cho vay giải quyết việc làm vùng DTTS, miền núi, biên giới, hải đảo đã thực sự được thực hiện hiệu quả, đáp ứng nhu cầu vốn của các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình để phát triển sản xuất kinh doanh. Tính trong 6 tháng đầu năm 2025, đã có 41,9 tỷ đồng được giải ngân cho 461 lượt khách hàng vay vốn; doanh số thu nợ 48,5 tỷ đồng; dư nợ đến hết tháng 6/2025 đạt 302,4 tỷ đồng với 4.065 khách hàng vay vốn còn dư nợ.

Ảnh trong văn bản

Từ nguồn vốn đã huy động, cùng với việc đầu tư cơ sở hạ tầng, thuận lợi cho giao thương, phát triển kinh tế, tỉnh chú trọng triển khai phát triển sản xuất vùng đồng bào DTTS.

Xác định OCOP là chương trình động lực để phát triển kinh tế nông thôn, trong đó có vùng đồng bào DTTS, biên giới, hải đảo, trong nhiều năm qua, tỉnh Quảng Ninh đã tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của các tổ chức kinh tế, cơ quan quản lý và đặc biệt là đồng bào vùng sâu, vùng xa về chương trình OCOP. Đồng thời, tỉnh chú trọng tổ chức sản xuất gắn với quy hoạch vùng nguyên liệu, phát triển sản phẩm OCOP dựa trên lợi thế tự nhiên, văn hóa và tập quán sản xuất của địa phương gắn với các nông sản chủ lực của tỉnh. Cùng với đó, việc đẩy mạnh ứng dụng KHCN trong sản xuất từ quản lý truy xuất nguồn gốc sản phẩm đến sản xuất, chế biến và bảo quản đã góp phần nâng cao giá trị, chất lượng của các sản phẩm OCOP. 

Ảnh với chú thích
Đóng gói Trà hoa vàng tại Công ty CP Kinh doanh lâm sản Đạp Thanh (xã Kỳ Thượng).

Tại “vùng khó” của tỉnh, xuất hiện ngày càng nhiều những mô hình cá nhân điển hình là đồng bào DTTS phát triển các sản phẩm OCOP hiệu quả, góp phần hình thành chuỗi giá trị sản phẩm và lan tỏa tinh thần khởi nghiệp bền vững từ cộng đồng.

Tại xã Tiên Yên, anh Bế Văn Lỵ, người dân tộc Tày từ một hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, đã mạnh dạn áp dụng mô hình chăn nuôi theo hướng VietGAP để phát triển nuôi giống gà Tiên Yên đặc sản. Nhờ đầu tư chuồng trại kiên cố, được sự hỗ trợ về kỹ thuật của cán bộ địa phương và nguồn vốn vay,  mô hình nuôi gà Tiên Yên của anh Lỵ đã thu về hàng trăm triệu đồng mỗi năm và tạo việc làm ổn định cho nhiều lao động tại địa phương. Vừa tăng thu nhập so với trước đây, anh Lỵ được nhiều người biết tới khi thành công trong việc bảo tồn giống gà Tiên Yên, giúp sản phẩm OCOP này ngày càng được nhiều người biết tới.

Ảnh với chú thích
Mô hình nuôi gà của anh Bế Văn Lỵ, xã Tiên Yên.

Hay như sản phẩm miến dong Bình Liêu, một sản phẩm OCOP 5 sao quốc gia là minh chứng cho sự thành công của chương trình OCOP tại địa phương miền núi (huyện Bình Liêu trước đây). Không dừng lại ở sản phẩm địa phương thuần túy, từ khi tham gia chương trình, các HTX tại Bình Liêu đã mạnh dạn đầu tư công nghệ, tạo ra sản phẩm không chỉ an toàn mà còn đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. “Miến dong Bình Liêu vừa được công nhận là sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu quốc gia là vinh dự lớn, là đòn bẩy để chúng tôi tiếp tục khẳng định thương hiệu miến dong Bình Liêu trên thị trường trong nước và quốc tế. Chúng tôi cam kết tiếp tục đầu tư công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất và chú trọng phát triển vùng nguyên liệu ổn định, đảm bảo chất lượng từ gốc đến sản phẩm cuối cùng” - Ông Nguyễn Xuân Tùng, Phó Giám đốc Công ty cổ phần Thương mại và Dịch vụ Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh chia sẻ.

Ảnh với chú thích
Cơ sở sản xuất miến dong Bình Liêu thực hiện đóng gói sản phẩm.

Hiện miến dong đã có mặt tại các siêu thị lớn trong nước và bước đầu xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, Nhật Bản…; có mặt trên các sàn thương mại điện tử. Sản phẩm miến dong Bình Liêu đã trở thành niềm tự hào của người dân địa phương, giúp nhiều gia đình có thêm nguồn thu nhập bền vững.

Ảnh với chú thích
Sản phẩm miến dong Bình Liêu đã trở thành niềm tự hào của người dân địa phương, giúp nhiều gia đình có thêm nguồn thu nhập bền vững.

Sau hơn một thập kỷ triển khai Chương trình OCOP, Quảng Ninh đã gặt hái nhiều kết quả ấn tượng với hơn 430 sản phẩm đạt sao, nhiều sản phẩm tiêu biểu của đồng bào DTTS, miền núi, hải đảo của tỉnh như trà hoa vàng Ba Chẽ, miến dong Bình Liêu, gà Tiên Yên… đã tạo dựng được thương hiệu mạnh, góp phần thay đổi tư duy sản xuất và tạo sinh kế bền vững cho người dân vùng sâu, vùng xa.

Cùng với đó, tỉnh chú trọng duy trì diện tích gieo trồng và sản lượng lúa, ngô, khoai, rau, với năng suất lúa ước đạt 55,2 tạ/ha. Tổng diện tích rừng được cấp chứng nhận FSC (xác minh nguồn gốc của các sản phẩm từ gỗ và lâm sản, đảm bảo chúng được sản xuất từ nguồn nguyên liệu bền vững, tuân thủ các tiêu chuẩn về môi trường, xã hội và kinh tế) là 36.311ha. Các địa phương tích cực vận động nhân dân tăng gia sản xuất, chuyển đổi mô hình kinh tế, vay vốn ưu đãi, phát triển kinh tế rừng, trồng cây có giá trị cao, chăn nuôi gia súc...

Ảnh với chú thích
Mô hình trồng lim, dổi xen kẽ cây quế của gia đình anh Nịnh Văn Năm, xã Ba Chẽ. Ảnh: Mai Linh

Ngoài ra, việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số từ đó thúc đẩy phát triển du lịch cũng là hướng đi tích cực. Nhiều mô hình du lịch cộng đồng đã phát huy được yếu tố văn hóa bản địa, xây dựng những sản phẩm du lịch cộng đồng độc đáo, đặc sắc như: tại xã Kỳ Thượng với mô hình Am Váp farm, nhiều homestay hút khách tại các xã thuộc địa phận huyện Bình Liêu cũ, khám phá du lịch cộng đồng kết hợp chợ phiên tại xã Điền Xá… Các mô hình phát triển du lịch cộng đồng kết hợp tiêu thụ các sản phẩm OCOP đã góp phần đáng kể cải thiện sinh kế bền vững cho đồng bào miền núi, hải đảo.

Ảnh với chú thích
Du khách trải nghiệm du lịch cộng đồng tại xã Kỳ Thượng.
Ảnh với chú thích
Du khách nước ngoài trải nghiệm ẩm thực bản địa của người Dao tại mô hình du lịch cộng đồng thuộc phường Yên Tử.

Với những giải pháp tích cực, chất lượng đời sống của người dân vùng sâu, xa của tỉnh được nâng cao, cải thiện rõ rệt. Thu nhập bình quân đầu người của vùng DTTS, biên giới, hải đảo của Quảng Ninh năm 2024 đạt 84,147 triệu đồng/người/năm; cao hơn khoảng 1,43 lần so với thu nhập bình quân đầu người cả nước và cao hơn khoảng 3 lần so với mục tiêu chung đến năm 2025 của cả nước về nâng mức thu nhập bình quân của người DTTS.

Tỉnh đã hoàn thành trước 3 năm chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025, chuyển sang thực hiện theo chuẩn nghèo đa chiều của tỉnh cao hơn mức bình quân chung của cả nước; tiếp tục tập trung nâng cao chất lượng, bổ sung các tiêu chí/chỉ tiêu đạt chuẩn nông thôn mới theo bộ tiêu chí nông thôn mới giai đoạn 2021-2025 đối với các xã vùng đồng bào DTTS, miền núi, biên giới, hải đảo.

Ảnh với chú thích
Mô hình nuôi thử nghiệm giống lợn Hương sinh sản, thương phẩm được triển khai tại Ba Chẽ năm 2024.

Việc triển khai Nghị quyết 06 đã thực sự tạo sinh kế ổn định, thu hẹp khoảng cách vùng miền, đời sống người dân ngày càng nâng cao, diện mạo vùng miền núi, biên giới, hải đảo của tỉnh ngày càng khởi sắc.

Từ những kết quả đạt được, tỉnh tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm vững chắc quốc phòng - an ninh vùng đồng bào DTTS, miền núi, biên giới, hải đảo trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn 2026-2030.

Thực hiện: HƯNG AN
Trình bày: MẠNH HÀ

Cùng chuyên mục