Từ kết quả đánh giá trình độ công nghệ ở một số ngành sản xuất ưu tiên, Quảng Ninh đang có thêm cơ sở để nhận diện điểm mạnh, điểm nghẽn của doanh nghiệp. Đây là bước đi quan trọng nhằm xây dựng lộ trình nâng cấp dây chuyền, nâng năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của các ngành chủ lực.
Nhận diện rõ trình độ công nghệ
Trong bối cảnh KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực đột phá cho tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, việc đánh giá trình độ công nghệ của doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng kế hoạch đổi mới công nghệ và hình thành các mô hình thí điểm có khả năng nhân rộng đã trở thành một yêu cầu cụ thể đặt ra đối với các địa phương. Với nhiệm vụ được giao, Sở KH&CN đã phối hợp tổ chức đánh giá trình độ và năng lực công nghệ sản xuất ở một số ngành ưu tiên của tỉnh trong giai đoạn 2021-2025. Cụ thể là ngành sản xuất hàng tiêu dùng và sản phẩm từ gỗ; sản xuất than; sản xuất kim khí; sản xuất các sản phẩm từ khoáng phi kim loại, trong đó có vật liệu xây dựng. Quy mô khảo sát gồm 111 doanh nghiệp lĩnh vực hàng tiêu dùng và sản phẩm từ gỗ, 15 doanh nghiệp sản xuất than, 37 doanh nghiệp kim khí và 83 doanh nghiệp sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại.
Kết quả khảo sát cho thấy, công nghệ của các doanh nghiệp chủ lực đã có nền tảng nhất định, song chưa đồng đều giữa các ngành. Theo đó, trình độ và năng lực công nghệ sản xuất được đánh giá theo thứ tự, nhóm sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại; kim khí; hàng tiêu dùng và sản phẩm từ gỗ; ngành than. Với thang điểm đánh giá, cả 4 nhóm ngành đều được xác định ở mức trung bình. Điều đáng chú ý, mỗi ngành có một lợi thế riêng. Ngành than có mức độ ứng dụng công nghệ thông tin tương đối phổ biến và đồng đều hơn so với các nhóm còn lại, nhất là ở tiêu chí cơ sở dữ liệu, phần mềm tích hợp phục vụ quản lý và tác nghiệp.
Trong khi đó, nhóm kim khí nổi bật hơn về năng lực đổi mới sáng tạo. Ở tiêu chí phát triển sản phẩm, các doanh nghiệp kim khí và khoáng phi kim loại cũng có kết quả thương mại hóa sản phẩm mới tích cực hơn. Nhóm sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại có nhiều ưu điểm về năng lực đầu tư cho nghiên cứu và phát triển.
Một điểm chung đáng lưu ý là nhiều doanh nghiệp đã có chiến lược chuyển đổi số ở các mức độ khác nhau. Tỷ lệ doanh nghiệp có chiến lược chuyển đổi số đạt 85% ở nhóm hàng tiêu dùng và sản phẩm từ gỗ; 84% ở ngành kim khí; 80% ở nhóm khoáng phi kim loại; ngành than đạt 50%. Tuy nhiên, từ có định hướng đến triển khai toàn diện vẫn là khoảng cách lớn. Khảo sát cho thấy chưa có doanh nghiệp nào áp dụng chiến lược công nghệ số đến toàn bộ doanh nghiệp.
Nâng cấp dây chuyền và năng lực cạnh tranh
Thực tế khảo sát cho thấy mức độ đầu tư mới thiết bị, công nghệ trong doanh nghiệp còn hạn chế. Trong 3 năm gần nhất, số doanh nghiệp không có đầu tư thiết bị mới để mở rộng sản xuất hoặc thay thế thiết bị cũ chiếm 74,5%. Ở khía cạnh tự động hóa, khoảng 90% doanh nghiệp thuộc ngành phi kim và kim khí có hệ số tự động hóa thấp hơn mức tiêu chuẩn trung bình ngành khảo sát. Mức độ áp dụng các giải pháp quản lý sản xuất tự động cũng còn thấp, chưa đồng bộ. Phần lớn doanh nghiệp mới chỉ có hệ thống thu thập dữ liệu sản xuất hoặc dữ liệu máy móc; số doanh nghiệp áp dụng hệ thống sản xuất tích hợp chỉ khoảng gần 5%.
Đây là những điểm nghẽn cần được tháo gỡ nếu muốn nâng trình độ công nghệ từ mức trung bình lên mức khá và cao hơn. Với ngành than, yêu cầu đặt ra là tiếp tục hiện đại hóa công nghệ khai thác, giảm lao động trực tiếp trong các khâu nặng nhọc, tăng cường giám sát an toàn, bảo dưỡng thiết bị và điều hành sản xuất bằng dữ liệu. Kết quả khảo sát cũng cho thấy 86,7% doanh nghiệp sản xuất than có chương trình, giải pháp thúc đẩy áp dụng sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất. Đây là nền tảng quan trọng để ngành tiếp tục nâng cấp công nghệ theo hướng an toàn, hiệu quả hơn.
Với nhóm sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại và vật liệu xây dựng, lợi thế nằm ở năng lực đầu tư cho nghiên cứu phát triển và khả năng tạo ra sản phẩm mới. Tuy nhiên, nhóm này phần lớn là doanh nghiệp nhỏ, nguồn lực đầu tư còn hạn chế. Do đó, việc hỗ trợ tiếp cận công nghệ, cải tiến dây chuyền, tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải và nâng chất lượng sản phẩm cần được đặt trong lộ trình phù hợp với quy mô doanh nghiệp. Đối với ngành kim khí, doanh nghiệp cần tăng tốc ứng dụng công nghệ tích hợp hệ thống, tự động hóa, quản trị chất lượng và liên kết nghiên cứu phát triển sản phẩm. Còn với nhóm hàng tiêu dùng và sản phẩm từ gỗ, hướng đi cần thiết là đổi mới thiết kế, nâng giá trị sản phẩm cuối cùng, mở rộng ứng dụng công nghệ số trong quản lý đơn hàng, thị trường, truy xuất nguồn gốc và kiểm soát chất lượng.
Theo ông Lê Như Thiều, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh, nhu cầu ứng dụng công nghệ trong cộng đồng doanh nghiệp hiện nay khá rõ, nhất là ở các khâu thiết bị, quản trị sản xuất, kiểm soát chất lượng và mở rộng thị trường. Tuy nhiên, mức độ sẵn sàng của mỗi doanh nghiệp còn khác nhau, tùy thuộc vào nguồn lực tài chính, nhân lực và khả năng tiếp cận giải pháp phù hợp. Nhiều doanh nghiệp có nhu cầu đầu tư nhưng còn thiếu thông tin về công nghệ, thiếu đội ngũ vận hành và khó tiếp cận nguồn vốn. Vì vậy, doanh nghiệp cần được hỗ trợ tư vấn, kết nối với cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, trường đại học và các đơn vị cung ứng công nghệ để lựa chọn giải pháp sát với thực tế sản xuất, tránh đầu tư dàn trải, hiệu quả chưa cao.
Khi các ngành sản xuất then chốt từng bước hiện đại hóa dây chuyền, tăng tự động hóa, phát triển sản phẩm mới và vận hành trên nền tảng dữ liệu, KHCN sẽ trở thành công cụ trực tiếp nâng năng suất, giảm chi phí, nâng sức cạnh tranh và đóng góp thiết thực hơn cho phát triển kinh tế bền vững của Quảng Ninh.