Trong hành trình 40 năm đổi mới của Quảng Ninh, giai đoạn 1991 - 1995 là một chặng có ý nghĩa đặc biệt: tỉnh từng bước thoát khỏi sự phụ thuộc lớn vào ngân sách Trung ương, tạo được thế tự lực về tài chính, đồng thời mở cửa mạnh hơn với bên ngoài và tập trung xây dựng những nền tảng hạ tầng, đô thị, kinh tế có ý nghĩa lâu dài. Những quyết định được đưa ra trong 5 năm này đã tạo tiền đề để Quảng Ninh bước vào các giai đoạn phát triển tiếp theo với thế chủ động hơn.
Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX là Đại hội thời kỳ đổi mới đầu tiên của Quảng Ninh, diễn ra trong hai vòng tại Khách sạn Vườn Đào, Bãi Cháy, TX Hòn Gai (nay là Hạ Long), từ ngày 22-25/4/1991 và 22-26/10/1991, định hướng toàn diện cho nhiệm kỳ 1991-1996. Trước yêu cầu đổi mới đất nước và chuyển sang cơ chế quản lý mới, Đại hội xác định phải đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng bộ, củng cố mối quan hệ giữa cấp ủy với chính quyền, sắp xếp tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu phát triển, đồng thời phát huy tiềm năng, lợi thế, tạo nguồn lực cho Quảng Ninh bước vào chặng đường phát triển mới.
Về xây dựng Đảng, Quảng Ninh đã tập trung nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng, giải quyết mối quan hệ giữa cấp ủy với chính quyền, tinh giản biên chế và đào tạo cán bộ đáp ứng yêu cầu mới. Tỉnh chú trọng đào tạo cán bộ người dân tộc thiểu số, cán bộ xuất thân từ công nhân, tạo nguồn cán bộ tại chỗ cho miền núi, biên giới, hải đảo.
Trong sản xuất, Quảng Ninh tập trung ổn định ngành Than và các ngành công nghiệp chủ lực. Tỉnh phối hợp với các bộ, ngành Trung ương tháo gỡ khó khăn cho các mỏ, xí nghiệp, từng bước đưa sản xuất vào ổn định. Giai đoạn 1986 - 1996, giá trị sản phẩm ngành Than luôn chiếm trên 30% GRDP và hơn 50% giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh.
Cùng với Than, công nghiệp địa phương được mở rộng ở các lĩnh vực vật liệu xây dựng như xi măng, gạch, ngói, đá, vôi; một số dây chuyền sản xuất hàng tiêu dùng và nước giải khát có vốn đầu tư nước ngoài được hình thành. Kinh tế tư nhân từng bước được tạo điều kiện phát triển, góp thêm nguồn lực cho nền kinh tế trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường.
Trong giai đoạn 1986 - 1995, tổng vốn đầu tư từ các nguồn trên địa bàn đạt trên 3.000 tỷ đồng. Tỉnh xác định giao thông phải đi trước các ngành kinh tế khác và tập trung nguồn lực cho những tuyến đường có khả năng mở rộng không gian phát triển. Đến năm 1994, toàn tuyến Quốc lộ 18A ra Móng Cái được nhựa hóa. Các tuyến 18C đi Bình Liêu, 330 đi Ba Chẽ, 334 đi Vân Đồn được nâng cấp; Quốc lộ 18 đoạn từ Vàng Chua đến Mông Dương được cải tạo; cầu Ba Chẽ hoàn thành. Giao thông được cải thiện đã tạo điều kiện kết nối các trung tâm kinh tế với miền núi, biên giới, biển đảo, đồng thời hỗ trợ lưu thông hàng hóa và mở rộng thị trường.
Cùng với xây dựng nội lực, Quảng Ninh sớm nhìn thấy cơ hội từ quá trình mở cửa đối ngoại. Sau khi Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc năm 1991, tỉnh chủ động khai thác lợi thế của Móng Cái, thúc đẩy giao thương biên giới và nghiên cứu cơ chế phù hợp với điều kiện thực tế. Ngày 29/5/1992, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 1050, sau khi được Bộ Công an cho phép vận dụng cơ chế đặc thù, tạo thuận lợi hơn cho hoạt động xuất nhập cảnh đường bộ và đường thủy qua cảng. Cũng trong năm này, Quảng Ninh chủ động nghiên cứu, xây dựng đề án trình Chính phủ về chính sách ưu đãi đối với khu vực cửa khẩu Móng Cái.
Ngày 15/4/1994, cầu Bắc Luân được thông thương, cửa khẩu quốc tế Móng Cái - Đông Hưng chính thức mở cửa. Một tuyến giao thương trực tiếp giữa hai nước được khai thông, tạo điều kiện để hoạt động thương mại biên giới phát triển. Quan trọng hơn, Quảng Ninh bắt đầu hình thành tư duy phát triển kinh tế dựa trên lợi thế vị trí cửa ngõ, chủ động tìm kiếm cơ chế để biến vị trí địa lý thành nguồn lực phát triển.
Những đề xuất về cơ chế cho Móng Cái trong giai đoạn này tiếp tục tạo tiền đề cho chính sách đặc thù được Chính phủ thí điểm sau đó. Từ một khu vực biên giới, Móng Cái từng bước được đặt vào một không gian phát triển gắn với thương mại, giao lưu kinh tế và hội nhập.
Cùng thời điểm mở rộng kinh tế đối ngoại, Quảng Ninh cũng từng bước xác lập những trung tâm và không gian phát triển mới trong nội tỉnh. Ngày 27/12/1993, thành phố Hạ Long được thành lập, tạo lập trung tâm đô thị, chính trị, kinh tế và văn hóa của tỉnh. Ngày 23/3/1994, huyện đảo Cô Tô được thành lập, củng cố tổ chức quản lý ở khu vực biển đảo, tạo cơ sở để phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ chủ quyền quốc gia.
Một dấu mốc đặc biệt khác đến vào cuối năm 1994. Ngày 17/12, Vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới về giá trị thẩm mỹ nổi bật. Hồ sơ Vịnh Hạ Long được xây dựng và hoàn thiện trong những năm 1991 - 1993 trước khi trình UNESCO; quá trình thẩm định kéo dài đến năm 1994. Việc Vịnh Hạ Long được ghi danh không chỉ nâng vị thế của một danh thắng mà còn mở ra một hướng phát triển mới cho Quảng Ninh. Ngay trong năm 1995, tỉnh thành lập Ban Quản lý Vịnh Hạ Long để thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản.
Đến năm 1995, Quảng Ninh tự cân đối được ngân sách địa phương và bắt đầu có đóng góp về Trung ương. Đặc biệt, tỉnh đã giải quyết được những vấn đề nền tảng, có nguồn lực để phát triển, có hạ tầng để kết nối, có cửa ngõ để mở ra bên ngoài và có những không gian phát triển mới để đi xa hơn. Đó chính là một trong những bước chuyển quan trọng làm nên hành trình đổi mới của Quảng Ninh.