Trên đường ra Trường Sa, nhiều đồng chí lãnh đạo của các tỉnh tâm sự là dù đã được đi khắp các tỉnh trong nước và cả tới nhiều nước của các châu lục, nhưng nếu không được tới Trường Sa, thì thật thiệt thòi.
Tâm sự này đã được cánh nhà báo chúng tôi chia sẻ. Ai cũng tự hào về việc mình được tới Trường Sa. Phòng chúng tôi trên tàu HQ 996 gồm 6 người, cùng 3 chúng tôi (2 Báo Quảng Ninh, 1 Đài PTTH Quảng Ninh), là các đồng nghiệp Nguyễn Đức Thiện (Báo Nam Định) và Nguyễn Xuân Long, Dương Hiển Cừ (Đài PTTH Quảng Ngãi).
“Bia thơ” tại đảo Đá Tây, quần đảo Trường Sa.
Nhà báo Nguyễn Đức Thiện cho biết từng đọc một bài báo có nói đến tại Trường Sa đã xây dựng bia ghi bài thơ “Nam quốc Sơn hà” của Lý Thường Kiệt. Đây là bài thơ được coi là Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Việt Nam. Thế ''bia thơ'' đó ở đảo nào? Thiếu uý Trần Quang Linh, công tác tại tàu Trường Sa 20, được điều động tới tàu HQ 996 phục vụ đoàn công tác, lắc đầu không biết có ''bia thơ'' trên quần đảo. Thấy tôi đọc giáo trình tiếng Trung Quốc, Trần Quang Linh đã bảo tôi viết tặng mấy chữ Nho làm kỷ niệm. Tôi cố gắng viết thật đẹp câu thơ ''Nam quốc sơn hà Nam đế cư” bằng chữ Nho cùng lời đề tặng. Thiếu uý Trần Quang Linh luôn chuyện trò thân thiết với chúng tôi, là bởi ngay từ lần đầu tiên vào phòng chúng tôi, anh và nhà báo Nguyễn Xuân Long đều có chung những hồi ức về tàu Trường Sa 20 cứu hộ trong bão Chanchu. Dịp đó, khi Trường Sa 20 tìm kiếm đưa ngư dân còn sống sót cùng thi hài các nạn nhân vào Quảng Ngãi, nhà báo Nguyễn Xuân Long đã lên tàu để tác nghiệp.
Trong khoảng 240 giờ hành trình của cả chuyến đi Trường Sa, chúng tôi có mặt trên các đảo chỉ khoảng 40 giờ, nhưng trong đó đã có khoảng 6 giờ ngủ đêm (đảo Nam Yết) và 1 giờ ngủ trưa (đảo Trường Sa Lớn). Phần lớn thời gian là chúng tôi trên tàu. Khi tàu chạy là chúng tôi lại chia sẻ những hiểu biết về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Lãnh thổ chúng ta, diện tích đất liền có gần 330 ngàn km2, nhưng biển của chúng ta hơn 1 triệu km2. Từ khởi thuỷ, tổ tiên ta, Lạc Long Quân và Âu Cơ đã cùng 50 con lên rừng, 50 con xuống biển để mở mang bờ cõi. Nếu ví Tổ quốc ta như một con tàu, thì Hoàng Sa, Trường Sa là hai cánh buồm của con tàu ấy. Nhà báo Nguyễn Xuân Long kể, ngư dân ở Quảng Ngãi còn lưu giữ những “mệnh lệnh” của chính quyền phong kiến lệnh đội tàu Hoàng Sa khai thác hải vật ở Hoàng Sa, Trường Sa. Và anh đã được tường tận xem những “mệnh lệnh” này. Quảng Ngãi có huyện đảo Lý Sơn và là một trong những tỉnh có số lượng ngư dân đông nhất, lâu đời đi biển và đi xa nhất để khai thác hải sản. Từ những ca khúc được hát lên, các đồng nghiệp Đài PTTH Quảng Ngãi đã giới thiệu về quê hương mình có Ba Tơ quật khởi, có Sơn Mỹ chứng tích căm thù quân xâm lược, có sông Trà Khúc hiền hoà... Quảng Ngãi, quê hương của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, của nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương, là nơi bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm chung đúc lòng yêu nước, sáng lên tấm gương tuổi trẻ sống có lý tưởng cách mạng, chan chứa tình yêu thương. Quảng Ngãi hôm nay có vinh dự và trách nhiệm xây dựng công trình lớn của đất nước: Nhà máy lọc dầu tại Khu Kinh tế Dung Quất.
Theo tài liệu Toàn cảnh biển đảo Việt Nam (Website Đảng Cộng sản Việt Nam), các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là các hòn đảo vô chủ cho đến thế kỷ XVII. Theo hiểu biết địa lý lúc bấy giờ, hai quần đảo được thể hiện liền một dải, bao gồm cả Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa và ban đầu được người Việt gọi chung một tên nôm là Bãi Cát Vàng. Vào nửa đầu thế kỷ XVII, Chúa Nguyễn tổ chức “đội Hoàng Sa” lấy người từ xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi ra quần đảo Hoàng Sa thâu lượm hàng hóa, khí cụ trên các tàu mắc cạn và đánh bắt hải sản quí hiếm mang về dâng nộp. Chúa Nguyễn lại tổ chức thêm “đội Bắc Hải'” lấy người thôn Tứ Chính hoặc xã Cảnh Dương, phủ Bình Thuận, cấp giấy phép ra quần đảo Trường Sa với cùng nhiệm vụ như đội Hoàng Sa. Các hoạt động này được ghi nhận trong nhiều tài liệu lịch sử như “Toản tập Thiên nam tứ chí lộ đồ thư” của Đỗ Bá tự Công Đạo (1686), “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn (1776), ''Lịch triều Hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú (1821), “Đại Nam thực lục tiền biên” (1844-1848), “Đại Nam thực lục chính biên” (1844 - 1848), “Đại Nam nhất thống chí” do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn (1910), Dư địa chí “Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ”, “Quốc triều chính biên toát yếu” (1910). Đồng thời, hai quần đảo và các hoạt động của triều đình phong kiến Việt Nam trên đó cũng được nhắc đến trong các tác phẩm nước ngoài như “Nhật ký Batavia” (1936), “Hải ngoại ký sự” (1696), “An Nam đại quốc họa đồ” (1838)... Cùng với nhiệm vụ khai thác hải sản và hàng hoá trên quần đảo, nhà Nguyễn còn tổ chức đo đạc, khảo sát, dựng bia, cắm mốc, trồng cây trên quần đảo... liên tục trong các năm 1834, 1835 và 1836. Thông qua việc tổ chức khai thác tài nguyên trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa liên tục hàng thế kỷ, trên thực tế cũng như về pháp lý, nhà Nguyễn đã làm chủ hai quần đảo từ khi hai quần đảo này còn chưa thuộc về lãnh thổ của bất kỳ quốc gia nào và biến hai quần đảo từ vô chủ thành bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam.
Biết bao cảnh vật, câu chuyện hấp dẫn chúng tôi từ các đảo Nam Yết, Sinh Tồn Đông, Tiên Nữ, Núi Le. Càng đi, càng hấp dẫn. Đúng khi tôi không nhớ tới “bia thơ”, thì “bia thơ” xuất hiện một cách bất ngờ tại đảo Đá Tây, cụ thể hơn là ở Khu hậu cần nghề cá của đảo này. Khu hậu cần nghề cá thuộc Tổng Công ty Hải sản Biển đông (Bộ Thuỷ sản). Tại đây có Công ty Hải sản Trường Sa (Quân chủng Hải quân). Cơ sở kinh tế, dịch vụ này ngay sát đảo bia chủ quyền. Khi tôi từ đảo bia chủ quyền sang là lượt xuồng thứ ba. Rồi khi xuống xuồng từ Khu hậu cần nghề cá trở lại tàu HQ 996 đến lượt tôi thì đã đủ người, nên tôi chờ chuyến sau. Chính trong lúc chờ đợi đó, tôi tìm cầu thang và leo lên điểm cao nhất của Khu hậu cần nghề cá để ngắm biển. Tại khoảng sân cao đó, tôi bỗng run lên khi được thấy “bia thơ”. Bài thơ “Nam quốc sơn hà” được khắc đá, phía trước có bát hương đang nghi ngút hương thơm, bệ bia khắc hình trống đồng:
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”.
Tôi đang băn khoăn là đồng nghiệp Nguyễn Đức Thiện biết “bia thơ” chưa, thì Nguyễn Đức Thiện xuất hiện. Sao tình cờ thế nhỉ? Nếu đi ngay từ chuyến xuồng trước đó thì tôi đâu có được cơ hội thấy “bia thơ”. Nguyễn Đức Thiện nói với tôi: ''Em đã nói rồi, rõ ràng là có bia khắc bài thơ “Nam quốc sơn hà” ở Trường Sa mà!” Được thấy “bia thơ” là một trong những điều hứng khởi của tôi trong chuyến đi này. Giữa Trường Sa đọc to lên câu thơ “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” thật sảng khoái, tự hào. Đó là tư thế quật khởi của dân tộc Việt Nam trước kẻ xâm lược. “Bia thơ” đã tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam là không phải bàn cãi gì nữa! Trường Sa có “bia thơ”, Hạ Long có “núi thơ” (Núi Bài Thơ), tình cờ chăng? Cả “bia thơ” và “núi thơ” đều khắc ghi thơ của quân vương, tuyên bố về giữ nước, dựng nước thì đâu là chuyện tình cờ?
Khi tới các đảo, chúng tôi chứng kiến việc chuẩn bị bầu cử Đại biểu Quốc hội khoá XII được tiến hành nghiêm túc. Được biết, Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 65/2007/NĐ-CP thành lập các đơn vị hành chính của huyện Trường Sa (thuộc tỉnh Khánh Hòa). Theo đó, huyện Trường Sa có ba đơn vị hành chính trực thuộc gồm thị trấn Trường Sa và các xã Song Tử Tây, Sinh Tồn. Thị trấn Trường Sa được thành lập trên cơ sở đảo Trường Sa Lớn và các đảo, đá, bãi phụ cận. Xã Song Tử Tây được thành lập trên cơ sở đảo Song Tử Tây và các đảo, đá, bãi phụ cận. Xã Sinh Tồn được thành lập trên cơ sở đảo Sinh Tồn và các đảo, đá, bãi phụ cận.
Bài thơ “Nam quốc sơn hà” đang vang vọng trên Biển Đông, khắc sâu tâm khảm người Việt Nam hôm nay, không ngừng bồi đắp tình yêu đất nước, bản lĩnh dựng nước và bảo vệ Tổ quốc. Bài thơ “Nam quốc sơn hà” khắc bia ở Trường Sa chính là cột mốc chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc thiêng liêng được dựng lên từ nền tảng giá trị tinh thần của người Việt Nam.
Kỳ cuối: IV - Trường Sa trong ta.