Luật Trí tuệ nhân tạo được xem là bước đi quan trọng nhằm định hình trí tuệ nhân tạo trở thành hạ tầng chiến lược và động lực tăng trưởng mới của quốc gia.
Trong thực tế, trí tuệ nhân tạo (AI) tại Việt Nam đang phát triển nhanh nhưng thiếu một “lan can” pháp lý đủ rõ ràng. AI đã được ứng dụng rộng rãi trong tài chính, y tế, giáo dục, truyền thông và quản lý nhà nước, song phần lớn vẫn dựa trên các quy định rời rạc, lồng ghép trong nhiều luật khác nhau.
Điều này, khiến việc kiểm soát rủi ro về dữ liệu cá nhân, sai lệch thuật toán, trách nhiệm pháp lý khi AI gây hậu quả hay nguy cơ phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài còn nhiều lúng túng.
Trong khi đó, doanh nghiệp và tổ chức nghiên cứu lại thiếu cơ sở pháp lý ổn định để mạnh dạn đầu tư, thử nghiệm và mở rộng ứng dụng AI. Khoảng trống này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có một đạo luật riêng, vừa bảo đảm an toàn cho xã hội, vừa tạo không gian đủ rộng để trí tuệ nhân tạo phát triển bền vững.
Trước thực tế đó, ông Trần Văn Sơn - Phó Viện trưởng Viện Công nghệ số và Chuyển đổi số quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ) cho biết, việc Quốc hội ban hành Luật Trí tuệ nhân tạo (Luật số 134/2025/QH15) là tất yếu. Quy định này nhằm thiết lập khuôn khổ pháp lý, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và quản lý hiệu quả các rủi ro tiềm ẩn.
Việt Nam hiện là một trong số ít quốc gia và khu vực trên thế giới đã ban hành luật riêng về AI, bên cạnh Liên minh châu Âu, Nhật Bản và Hàn Quốc.
"Nếu EU tiếp cận theo hướng quản lý chặt chẽ, đề cao an toàn, Nhật Bản ưu tiên thúc đẩy phát triển, còn Hàn Quốc kết hợp cả hai nhưng thiên về khuyến khích, thì Việt Nam lựa chọn cách tiếp cận hài hòa. Theo đó, luật bảo đảm mức độ an toàn cao hơn khung cơ bản của Hàn Quốc, đồng thời tạo điều kiện phát triển mạnh mẽ tương tự Nhật Bản", ông Sơn thông tin.
Luật Trí tuệ nhân tạo hướng tới mục tiêu kép: lấp đầy khoảng trống pháp lý trong quản lý các ứng dụng AI mới, đồng thời chuyển từ tư duy quản lý bị động sang kiến tạo chủ động. Luật được xây dựng trên nguyên tắc lấy con người làm trung tâm, khẳng định AI là công cụ hỗ trợ chứ không thay thế vai trò quyết định của con người. Việc phát triển và ứng dụng AI phải gắn với bảo vệ lợi ích quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Về phạm vi điều chỉnh, luật quy định toàn diện các hoạt động nghiên cứu, phát triển, cung cấp, triển khai và sử dụng hệ thống AI tại Việt Nam, trừ các hoạt động phục vụ riêng cho mục đích quốc phòng, an ninh quốc gia và cơ yếu. "Luật áp dụng cho cả tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tham gia hoạt động AI trên lãnh thổ Việt Nam. Qua đó, thiết lập cơ chế quản lý đối với các hoạt động xuyên biên giới và khẳng định chủ quyền quốc gia trong không gian số", ông Sơn nhấn mạnh.
Luật được thiết kế theo mô hình luật khung, gồm 8 chương, 35 điều, tập trung vào các nguyên tắc nền tảng và dành dư địa linh hoạt cho Chính phủ quy định chi tiết, phù hợp với tốc độ phát triển nhanh của công nghệ. Nội dung cốt lõi của luật bao gồm: xác định chính sách phát triển AI vì con người; quản lý AI theo mức độ rủi ro; phát triển hạ tầng dữ liệu, hạ tầng tính toán và nền tảng dùng chung gắn với bảo đảm chủ quyền dữ liệu; thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực; xây dựng khung đạo đức AI quốc gia; tăng cường giám sát, thanh tra và xử lý vi phạm.
Theo Phó Viện trưởng Viện Công nghệ số và Chuyển đổi số quốc gia đánh giá, Luật Trí tuệ nhân tạo được kỳ vọng tạo ra bước đột phá chiến lược, giúp Việt Nam chuyển từ quốc gia tiêu thụ sang quốc gia kiến tạo giá trị trong lĩnh vực AI, thông qua việc tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng, dữ liệu và nguồn lực tài chính.
"Về kinh tế, luật góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; về xã hội, luật thiết lập hành lang pháp lý nhân văn, bảo vệ người dân trước các rủi ro đạo đức và tác động tiêu cực của AI...", ông Sơn nhận định.
Phó Viện trưởng Viện Công nghệ số và Chuyển đổi số quốc gia cũng nhấn mạnh, Luật Trí tuệ nhân tạo không chỉ là công cụ quản lý mà còn là tuyên bố cam kết của Việt Nam trong việc làm chủ công nghệ, bảo vệ con người và bảo đảm an ninh, chủ quyền quốc gia trong kỷ nguyên số. Luật Trí tuệ nhân tạo sẽ có hiệu lực từ ngày 1.3.2026.