Kết nối trí tuệ, công nghệ với những bài toán phát triển của Quảng Ninh

Diễn đàn khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số thành phố Quảng Ninh năm 2026 quy tụ các chuyên gia, nhà khoa học, doanh nghiệp cùng trao đổi, đề xuất những giải pháp gắn chuyển đổi xanh với chuyển đổi số, nâng cao năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu; đồng thời kết nối khoa học, công nghệ với yêu cầu thực tiễn trong quy hoạch, phát triển hạ tầng, quản trị dữ liệu và hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo. Những kiến giải, đề xuất từ diễn đàn góp phần mở thêm hướng tiếp cận, tạo cơ sở để thành phố cụ thể hóa các giải pháp phát triển phù hợp với từng không gian sinh thái, từng ngành, lĩnh vực, hướng tới mục tiêu phát triển nhanh, xanh và bền vững.

Nhận diện những yêu cầu từ thực tiễn phát triển

Quảng Ninh đang bước vào một giai đoạn phát triển với không gian rộng hơn, yêu cầu quản trị cao hơn và những cơ hội mới về kinh tế biển, logistics, công nghiệp hiện đại, dịch vụ và du lịch di sản. Cùng với đó là bài toán bảo vệ tài nguyên, môi trường, cảnh quan và nâng cao khả năng chống chịu trước những tác động ngày càng phức tạp của thiên tai, biến đổi khí hậu. Trong yêu cầu đó, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không còn là những lĩnh vực hỗ trợ riêng lẻ mà ngày càng trở thành công cụ trực tiếp phục vụ hoạch định chính sách, tổ chức không gian phát triển và nâng cao hiệu quả quản trị.

bqn_tr_2aobor0z7nmzd307wznbqyxkqzzsfcutplj8kh3i.jpg
Các đại biểu tham dự Diễn đàn khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số thành phố Quảng Ninh năm 2026.

Đây cũng là vấn đề được đặt ra tại Diễn đàn khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số thành phố Quảng Ninh năm 2026, tổ chức ngày 23/9 tại Trung tâm Tổ chức hội nghị thành phố. Diễn đàn được tổ chức trực tiếp kết hợp trực tuyến tới 54 xã, phường, đặc khu và livestream trên các nền tảng Internet, tạo điều kiện để đông đảo cán bộ, doanh nghiệp và người dân cùng tiếp cận các nội dung trao đổi.

Phát biểu khai mạc, đồng chí Nguyễn Văn Công, Phó Chủ tịch UBND thành phố, nhấn mạnh: "Diễn đàn diễn ra trong thời điểm có ý nghĩa đặc biệt, khi thành phố Quảng Ninh chính thức bước vào giai đoạn vận hành mô hình phát triển mới, gắn với Quy hoạch chung đô thị Quảng Ninh đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Theo định hướng quy hoạch, không gian phát triển được tổ chức theo cấu trúc đa cực, đa trung tâm, tăng cường liên kết giữa các đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế, trung tâm dịch vụ - du lịch, cảng biển và các vùng sinh thái. Cấu trúc này mở ra dư địa lớn để phát huy lợi thế biển, đảo, di sản, cửa khẩu, công nghiệp và dịch vụ, song đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn đối với quản trị tài nguyên, tổ chức hạ tầng và bảo vệ các hệ sinh thái tự nhiên”.

bqn_tr_2aobor0ablajz28ip5haohg1xli5bcsf9g7cekm8.jpg
Các đại biểu ký kết biên bản tiếp nhận, bàn giao bộ học liệu đa phương tiện.

Đặc thù của Quảng Ninh càng làm rõ yêu cầu đó. Không gian tự nhiên và kinh tế của thành phố trải rộng từ miền núi, trung du, đồng bằng ven biển đến cửa sông, biển đảo với hơn 2.000 đảo lớn nhỏ. Các khu vực có điều kiện tự nhiên, thế mạnh phát triển và mức độ rủi ro khác nhau, vì vậy không thể áp dụng một cách tiếp cận duy nhất cho toàn bộ không gian.

Ở khu vực ven biển, các đô thị như Hạ Long, Cẩm Phả, Quảng Yên, Móng Cái, Vân Đồn chịu tác động trực tiếp của bão, triều cường, ngập lụt, nước biển dâng, xâm nhập mặn và xói lở. Khu vực hải đảo như Vân Đồn, Cô Tô và các xã đảo đứng trước yêu cầu bảo đảm nguồn nước ngọt, duy trì hoạt động hạ tầng trong điều kiện thời tiết cực đoan. Trong khi đó, các khu vực miền núi như Bình Liêu, Ba Chẽ, Tiên Yên, Đầm Hà và miền núi Móng Cái có nguy cơ lũ quét, lũ ống, sạt lở đất đá khi xuất hiện mưa lớn.

Những khác biệt ấy cho thấy bài toán phát triển của Quảng Ninh không đơn thuần là mở rộng đô thị hay đầu tư thêm hạ tầng. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để mỗi công trình, mỗi không gian phát triển được tính toán trong mối quan hệ với điều kiện tự nhiên, sức chịu tải của hệ sinh thái và những biến động có thể xảy ra trong tương lai.

PGS.TS Lưu Đức Hải, Viện trưởng Viện Nghiên cứu đô thị và Phát triển hạ tầng, cùng PGS.TS Tạ Quỳnh Hoa, Trưởng khoa Đào tạo Quốc tế, Khoa Kiến trúc Quy hoạch, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, đã gợi mở cách tiếp cận theo hướng quy hoạch tích hợp, kết hợp hạ tầng công trình với hạ tầng xanh, xanh dương và các giải pháp dựa vào tự nhiên. Theo hướng tiếp cận này, hệ thống hạ tầng “xám” như giao thông, thoát nước, công trình bảo vệ bờ không tách rời hệ thống sinh thái tự nhiên mà cần được thiết kế, vận hành trong sự kết nối với cây xanh, mặt nước, đất ngập nước, rừng ngập mặn và các không gian có khả năng hấp thụ, lưu giữ nước.

Mô hình đô thị bọt biển cũng được đặt ra như một hướng nghiên cứu, ứng dụng phù hợp với điều kiện của Quảng Ninh. Thay vì tìm cách đưa nhanh toàn bộ lượng nước mưa ra khỏi đô thị, mô hình này hướng tới việc giữ, thấm, trữ và điều tiết nước ngay trong không gian đô thị thông qua các hồ điều hòa, bề mặt thấm nước, vườn mưa, rãnh sinh học và các không gian xanh.

Đối với Quảng Ninh, giải pháp cần được phân hóa theo từng vùng. Khu vực ven biển có thể chú trọng khả năng lưu trữ và điều tiết nước, kiểm soát ngập và triều cường; vùng đảo cần quan tâm đồng thời đến nguồn nước và bảo vệ bờ; khu vực miền núi cần tăng khả năng giữ nước, giảm dòng chảy tập trung và hạn chế sạt lở. Việc phục hồi các hệ sinh thái tự nhiên, trong đó có rừng ngập mặn như khu vực Đồng Rui, Tiên Yên, cũng được nhìn nhận như một giải pháp tăng khả năng bảo vệ bờ và giảm tác động của sóng, bão.

Cách tiếp cận này phù hợp với định hướng của Quy hoạch chung đô thị Quảng Ninh đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075, trong đó đặt yêu cầu xây dựng Quảng Ninh trở thành đô thị hiện đại, thông minh, xanh, phát triển bền vững, phát huy các giá trị biển, đảo, biên giới, di sản và cảnh quan tự nhiên.

Nhưng quy hoạch xanh muốn đi vào thực tế không thể thiếu dữ liệu. Khi không gian phát triển ngày càng lớn, các quyết định về sử dụng đất, xây dựng hạ tầng, phát triển đô thị hay khai thác tài nguyên cần dựa trên những thông tin đủ rộng, đủ sâu và được cập nhật theo thời gian thực.

bqn_tr_2hgb6fcii0j9tm9ieuojf455ngnyxkmdnutu.jpg
Các đại biểu tham quan sản phẩm công nghệ tại Diễn đàn khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số thành phố Quảng Ninh năm 2026

Đây là một trong những nội dung được GS.TSKH Hồ Tú Bảo, Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán, thành viên Hội đồng Tư vấn Quốc gia và Quảng Ninh về Khoa học Công nghệ, Đổi mới sáng tạo và Chuyển đổi số, đặt ra tại diễn đàn. Theo đề xuất của ông, Quảng Ninh cần ưu tiên kết nối tăng trưởng xanh, dữ liệu và năng lực chống chịu khí hậu; từng bước hình thành mô hình “bản sao số” về vốn tự nhiên để hỗ trợ quản lý sức chịu tải của tài nguyên, phát triển nền tảng số, hạ tầng IoT và kho dữ liệu tập trung. Nếu các dữ liệu về đất đai, nước, rừng, biển, khí tượng, hải văn, địa hình đến dữ liệu kinh tế - xã hội được chuẩn hóa và kết nối có thể tạo thành nền tảng phục vụ các quyết định quản trị. Khi đó, chuyển đổi số không dừng ở số hóa quy trình hành chính mà tiến tới sử dụng dữ liệu để nhận diện vấn đề, dự báo rủi ro, mô phỏng các kịch bản và hỗ trợ lựa chọn phương án phát triển.

"Đó cũng là điểm giao giữa chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Công nghệ số tạo ra công cụ để hiểu rõ hơn về tài nguyên và môi trường; ngược lại, yêu cầu phát triển xanh đặt ra những bài toán thực tiễn để dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, IoT và các công nghệ mới được đưa vào sử dụng hiệu quả” - GS.TSKH Hồ Tú Bảo nhấn mạnh.

Đưa khoa học, dữ liệu vào giải quyết những bài toán thực tiễn

Nếu chuyển đổi xanh và chuyển đổi số là hai hướng chuyển đổi lớn, thì đổi mới sáng tạo chính là không gian để kết nối các nguồn lực và biến những yêu cầu mới thành giải pháp cụ thể. Tại diễn đàn, các chuyên gia không chỉ tập trung nhận diện xu thế mà đưa ra nhiều đề xuất gắn với những bài toán cụ thể của thành phố Quảng Ninh.

Một trong những yêu cầu được đặt ra là xây dựng hệ thống cảnh báo sớm đa thiên tai theo hướng liên thông dữ liệu và phản ứng theo mức độ rủi ro. TS. Hoàng Đức Cường và TS. Võ Văn Hòa, các chuyên gia tại Cục Khí tượng Thủy văn, đề xuất khung cảnh báo theo chuỗi “Quan trắc - Dữ liệu - Phân tích/Mô hình - Nguy cơ - Rủi ro - Cảnh báo - Hành động - Phản hồi”. Cách tiếp cận này hướng tới việc chuyển từ dự báo đơn thuần về hiện tượng thời tiết sang cảnh báo dựa trên tác động và mức độ rủi ro. Dữ liệu khí tượng thủy văn, hải văn, viễn thám, địa hình có thể được kết nối với dữ liệu dân cư, hạ tầng, giao thông, kinh tế - xã hội để xác định cụ thể khu vực nào có nguy cơ, đối tượng nào có thể bị ảnh hưởng và cần hành động ra sao.

bqn_tr_2917fadfcebe4ee017af.jpg
Người dân phường Đông Triều sử dụng robot hỗ trợ tra cứu thông tin, giải quyết thủ tục hành chính.

Về công nghệ, ông Cao Xuân Trường, chuyên viên tư vấn giải pháp của VNPT AI, đề xuất chuỗi vận hành thời gian thực gồm “Thu nhận - Truyền dẫn - Phân tích - Cảnh báo - Phản ứng”. Theo đó, các trung tâm điều hành, mạng lưới cảm biến IoT và hệ thống giám sát an toàn thông tin có thể được kết nối để phục vụ điều hành đô thị và phòng chống thiên tai. Điểm đáng chú ý là yêu cầu không để hệ thống bị gián đoạn khi chính hạ tầng điện, viễn thông có thể chịu tác động bởi thiên tai. Vì vậy, cùng với việc tăng tốc độ thu nhận và xử lý dữ liệu, các giải pháp dự phòng, phân tầng mức độ khẩn cấp và bảo đảm an toàn hệ thống cũng cần được tính toán ngay từ khâu thiết kế.

TS. Nguyễn Minh Ngọc, chuyên gia, giảng viên Khoa Quản lý đô thị, Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội, đề xuất Quảng Ninh xây dựng “Khung hành động 100 ngày” nhằm tập trung tháo gỡ những điểm nghẽn cốt lõi trong chuyển đổi số, trên cơ sở tham chiếu kinh nghiệm thực tiễn từ Hà Nội. Theo đó, cần rà soát, xử lý 9 nhóm vấn đề liên quan đến thẩm quyền bàn giao, quy trình phối hợp liên cơ quan, liên thông và chuẩn hóa dữ liệu dùng chung, an toàn thông tin, năng lực cán bộ và kỷ luật thực thi.

Cùng với giải quyết các điểm nghẽn trước mắt, TS. Nguyễn Minh Ngọc đề xuất xây dựng danh mục nhiệm vụ quản trị thống nhất, phân kỳ cụ thể theo từng tháng và duy trì lộ trình phát triển năng lực quản trị số đến năm 2030, gồm 3 giai đoạn: 2026-2027 tập trung chuẩn hóa; năm 2028 mở rộng; giai đoạn 2029-2030 khai thác dữ liệu và trí tuệ nhân tạo theo các bài toán thực tế.

1789617448814-1781285113655401407-4789076943919910769-d508d7f45c37bade26b6d0b3f794d10a.jpg
Trứng gà Tân An của Công ty TNHH Sản xuất thương mại thực phẩm Tân An (phường Hà An) được làm sạch, phân loại trên dây chuyền hiện đại.

Trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo, TS. Nguyễn Đắc Bình Minh tập trung phân tích xu thế công nghệ mới và mối quan hệ giữa chuyển đổi xanh với chuyển đổi số. Sự giao thoa giữa hai quá trình này mở ra những cơ hội mới cho doanh nghiệp trong tiết kiệm năng lượng, tối ưu sản xuất, quản lý tài nguyên, giảm phát thải, phát triển sản phẩm và mô hình kinh doanh mới.

Đây cũng là lý do tại diễn đàn, yêu cầu hỗ trợ doanh nghiệp được đặt song song với phát triển hạ tầng số và dữ liệu. Doanh nghiệp là nơi trực tiếp đưa công nghệ vào sản xuất, kinh doanh, vì vậy các cơ chế thử nghiệm, hỗ trợ đổi mới sáng tạo và chuyển đổi kép cần hướng vào những ngành, lĩnh vực có tiềm năng tạo tác động rõ rệt đối với tăng trưởng xanh và năng lực cạnh tranh của thành phố.

Từ các tham luận và trao đổi tại diễn đàn, có thể thấy điểm chung trong nhiều đề xuất là yêu cầu kết nối. Kết nối dữ liệu với quy hoạch; kết nối công nghệ với bài toán thực tiễn; kết nối hạ tầng xanh với hạ tầng công trình; kết nối doanh nghiệp với không gian đổi mới sáng tạo; kết nối cảnh báo với hành động ứng phó. Chuyển đổi kép vì vậy không phải hai quá trình diễn ra song song mà cần được tổ chức trong một hệ thống thống nhất.

Trên cơ sở các ý kiến đóng góp trực tiếp hoặc qua các tham luận, đồng chí Nguyễn Văn Công, Phó Chủ tịch UBND thành phố, đề nghị các cơ quan, đơn vị, địa phương thực thi ngay các giải pháp kết nối dữ liệu số để đánh giá sức chịu tải của tự nhiên. Thành phố sẽ đẩy nhanh xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu chuyên ngành, từng bước hình thành kho dữ liệu tập trung, đồng thời nghiên cứu các cơ chế thử nghiệm hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi kép. Trong đó, tập trung hỗ trợ sát với những ngành trọng điểm, đẩy mạnh đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo định hướng phát triển của thành phố. Cùng với đó, các giải pháp phát triển kinh tế xanh gắn với hạ tầng thích ứng cần được tích hợp vào quy hoạch từng vùng sinh thái, từ dải đô thị ven biển, khu vực hải đảo đến không gian đồi núi và khai trường mỏ.

Thực tế cho thấy, giá trị của diễn đàn nằm ở việc đưa khoa học, công nghệ, dữ liệu và đổi mới sáng tạo đến gần hơn với những bài toán cụ thể của Quảng Ninh. Đó là giải pháp phát triển đô thị trong giới hạn sức chịu tải của tự nhiên; là sử dụng dữ liệu để nâng cao chất lượng quy hoạch và quản trị; ứng dụng công nghệ để dự báo, cảnh báo, ứng phó với thiên tai; đồng thời tạo thêm động lực để doanh nghiệp đổi mới, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số…

Trong một không gian phát triển đan xen giữa đô thị, biển đảo, miền núi, di sản, công nghiệp và các hệ sinh thái tự nhiên, thành phố cần một cách tiếp cận tổng thể nhưng có giải pháp phù hợp với từng địa bàn, từng ngành, từng vấn đề. Điều đó đặt ra yêu cầu gắn khoa học công nghệ với quy hoạch và quản trị, đưa dữ liệu trở thành nguồn lực cho quyết định phát triển, lấy chuyển đổi xanh làm yêu cầu xuyên suốt trong tổ chức không gian và đầu tư hạ tầng, đồng thời đưa đổi mới sáng tạo vào giải quyết những vấn đề thực tiễn. Khi các nguồn lực này được kết nối thành một chỉnh thể, chuyển đổi số có thể trở thành công cụ nâng cao năng lực chống chịu, chuyển đổi xanh tạo thêm dư địa cho tăng trưởng, còn đổi mới sáng tạo tạo ra những giải pháp có khả năng đi vào cuộc sống.

Đây là cơ sở để thành phố Quảng Ninh tiếp tục cụ thể hóa các định hướng phát triển trong giai đoạn mới, khai thác hiệu quả hơn lợi thế biển, di sản, đô thị và các không gian sinh thái, đồng thời bảo vệ những giá trị tự nhiên làm nên sức hấp dẫn và lợi thế riêng của địa phương, hướng tới một phương thức phát triển nhanh, xanh, thông minh và bền vững.

Cao Quỳnh - Bảo Bình

Cùng chuyên mục