Giữa không gian xanh mát của Đà Lạt, khu Biệt điện Trần Lệ Xuân (số 2 đường Yết Kiêu, phường Cam Ly - Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng) không chỉ là một địa chỉ lưu dấu lịch sử, mà còn là nơi gìn giữ một kho tàng tư liệu đặc biệt quý giá của dân tộc: Mộc bản Triều Nguyễn.
Biểu trưng của một vương triều
Có dịp tới Đà Lạt công tác, tôi tranh thủ dành thời gian tới tham quan khu Biệt điện Trần Lệ Xuân để chiêm ngưỡng các Mộc bản Triều Nguyễn. Kho Mộc bản nằm trên đồi cao, thẳng cổng vào, rẽ phải. Giá vé vào cửa gồm tham quan Mộc bản và Biệt điện Trần Lệ Xuân (trừ biệt điện Lam Ngọc) là 125.000 đồng/người. Phần lớn các Mộc bản được bảo quản khoa học ở trong kho với độ ẩm, ánh sáng được khống chế chống vi khuẩn, mối mọt. Chỉ một số bản đặc biệt được tách riêng, bày trong các tủ kính để du khách chiêm ngưỡng.
Giọng nói nhỏ nhẹ mang âm hưởng Huế của cô hướng dẫn viên như đưa tôi về quá khứ.
Sau khi chính thức thiết lập vương triều vào năm 1802, các vua nhà Nguyễn đã đặc biệt chú trọng đến việc biên soạn lịch sử, bởi thông qua sử học có thể ổn định xã hội, cố kết nhân tâm, từ đó củng cố, nâng cao vai trò dòng tộc cũng như vị trí của vương triều.
Năm 1820, vua Minh Mệnh đã cho thành lập Quốc Sử quán. Trong hơn 100 năm tồn tại, Quốc Sử quán đã biên soạn được nhiều bộ sách có giá trị như Đại Nam thực lục, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam nhất thống chí, Minh Mệnh chính yếu và rất nhiều tác phẩm sử học khác.
Để tiến hành biên soạn các bộ quốc sử, các sách chuyên khảo về địa chí, văn hóa, giáo dục, triều đình đã thiết lập một bộ máy biên tập, đứng đầu chịu trách nhiệm thi hành là những bậc văn võ đại thần. Việc biên soạn mỗi bộ chính sử thường kéo dài hàng thập kỷ, trải qua nhiều đời, tốn nhiều công sức và trí tuệ của các sử thần.
Để hoàn thành xong một ván khắc, trước hết người ta cần chuẩn bị gỗ và những nguyên vật liệu như mực, giấy, dầu nước, chiếu vuông, chiếu dài, dùi, đục, chàng... với nhiều kích cỡ khác nhau. Gỗ được chọn làm ván khắc thường là gỗ thị, mít, gỗ thừng mực, gỗ lê, gỗ táo do những loại gỗ này có sức bền, không bị co rút nhiều, thẩm thấu mực tốt. Tùy theo kích thước khổ khuôn in của các bộ sách, người thợ sẽ cắt ván khắc theo các kích cỡ thống nhất phục vụ cho việc chạm khắc.
Về kỹ thuật khắc in Mộc bản Triều Nguyễn, nhiều nhà nghiên cứu và du khách tham quan đã phải thốt lên rằng mỗi bản khắc là một tác phẩm nghệ thuật điêu luyện, bởi những nét chữ sắc sảo, uyển chuyển, đều đặn hiện lên trên thớ gỗ như họa bút của các bậc danh gia thư pháp nổi tiếng đương thời. Đỉnh cao của kỹ thuật chế tác Mộc bản Triều Nguyễn chính là nghệ thuật khắc họa chi tiết từng đường nét rồng bay, phượng múa, hoa văn, họa tiết, bản đồ, họa đồ và hình ấn triện của nhà vua.
Nguồn sử liệu vô giá
Như cô hướng dẫn viên giới thiệu, trong kho tàng Mộc bản Triều Nguyễn, có rất nhiều pho sách quý, đặc biệt là những bộ quốc sử, được triều đình biên soạn hết sức công phu, có giá trị lớn, chứa đựng nhiều thông tin chân xác về thời cuộc.
Bên cạnh đó, các vua Triều Nguyễn cũng rất coi trọng những bộ sách được biên soạn và khắc in từ thời Lê. Do vậy, Mộc bản của Triều Nguyễn vừa phong phú, chuẩn xác về nội dung, vừa đa dạng về nguồn gốc xuất xứ. Khi tìm hiểu về lịch sử, văn hóa, xã hội thời cổ đại, trung đại và cận đại Việt Nam, các nhà nghiên cứu chủ yếu dựa trên những cứ liệu của các tác phẩm còn lưu giữ được như: Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam thực lục, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Minh Mệnh chính yếu, Đại Nam nhất thống chí… Tất cả đều được in từ chính khối Mộc bản Triều Nguyễn trên.
Tại sao lại đặt kho lưu trữ Mộc bản tại Đà Lạt? Cô hướng dẫn viên cười trả lời tôi: Đơn giản bởi với khí hậu khô ráo quanh năm của Đà Lạt, sách vở và sử liệu, nhất là Mộc bản có thể được bảo tồn lâu dài.
Khối Mộc bản Triều Nguyễn hiện đang bảo quản tại khu Biệt điện Trần Lệ Xuân gồm 33.976 tấm, được tạm chia thành hơn 100 đầu sách với nhiều chủ đề như: Lịch sử, địa lý, chính trị - xã hội, quân sự, pháp chế, văn hóa - giáo dục, tôn giáo - tư tưởng - triết học, ngôn ngữ - văn tự; văn thơ. Với giá trị đặc biệt về nội dung, nghệ thuật chế tác, Mộc bản Triều Nguyễn đã được UNESCO công nhận là Di sản Tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới vào ngày 31/7/2009 và trở thành Di sản Tư liệu thế giới đầu tiên của Việt Nam.
Tôi nhìn vào lướt qua các Mộc bản được bảo quản nghiêm cẩn trong kho và thú vị tự hỏi đâu trong hơn 3 vạn bản khắc trên, những trang nào là Đại Nam Nhất thống chí, phần về tỉnh Quảng Yên (Quảng Ninh ngày nay)?