Phát biểu tham gia ý kiến đối với Dự thảo Luật Phát triển đô thị, tại phiên thảo luận hội trường sáng 11/8, Kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, đại biểu Nguyễn Thị Thu Hà, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ninh thể hiện sự đồng tình cao với định hướng xây dựng luật, đồng thời đưa ra nhiều kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định về phân cấp, phân quyền, cơ chế đặc thù đối với các thành phố trực thuộc Trung ương và khu kinh tế đặc biệt.
Một trong những vấn đề được đại biểu phân tích kỹ là phạm vi áp dụng luật đối với các thành phố trực thuộc Trung ương chưa được công nhận là đô thị đặc biệt. Theo đại biểu, quy định về việc áp dụng “một số cơ chế, chính sách” còn chưa đủ cụ thể khi dự thảo chưa xác định rõ những cơ chế, chính sách đó gồm những nội dung nào. Nếu các nội dung quan trọng đều được giao cho Chính phủ quy định bằng nghị định thì có thể dẫn đến thiếu minh bạch, thậm chí phát sinh cơ chế xin - cho. Vì vậy, đại biểu đề nghị luật hóa danh mục tối thiểu những cơ chế mà thành phố trực thuộc Trung ương đương nhiên được áp dụng, còn phần mở rộng mới giao Chính phủ quy định.
Liên quan đến tiêu chí “năng lực thực thi”, đại biểu cho rằng, đây là tiêu chí mang tính định tính và cần được cụ thể hóa ngay trong luật. Đây là một vấn đề đáng lưu ý bởi nếu không có tiêu chí rõ ràng, việc xác định địa phương có đủ năng lực để được áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù có thể phụ thuộc nhiều vào đánh giá chủ quan. Ngược lại, khi các tiêu chí được quy định cụ thể, địa phương có thể chủ động nâng cao năng lực quản trị, đồng thời tạo ra sự minh bạch và bình đẳng trong quá trình xem xét áp dụng cơ chế đặc thù.
Đại biểu Nguyễn Thị Thu Hà cũng đặt vấn đề về khoản 1 Điều 66 khi quy định nghị quyết của Quốc hội về cơ chế đặc thù đối với các thành phố tiếp tục có hiệu lực cho đến khi nghị định của Chính phủ có hiệu lực thi hành. Theo phân tích của đại biểu, cách quy định như vậy khiến thời điểm hết hiệu lực của một nghị quyết Quốc hội lại phụ thuộc vào tiến độ ban hành một nghị định, vừa khó xác định, vừa chưa thực sự phù hợp với yêu cầu về hiệu lực của văn bản pháp luật. Đại biểu dẫn chiếu cách quy định tại khoản 3 Điều 64, trong đó thời điểm hết hiệu lực của Nghị quyết số 98 được xác định ngay trong luật, và đề nghị áp dụng thống nhất kỹ thuật này đối với Điều 66. Đây là kiến nghị có ý nghĩa về mặt lập pháp, góp phần bảo đảm tính minh bạch, ổn định và khả năng dự đoán của hệ thống pháp luật.
Đối với khu kinh tế đặc biệt, đại biểu tiếp tục đặt ra vấn đề về nguyên tắc phân quyền. Theo phân tích, khoản 2 Điều 4 chỉ dẫn chiếu một số khoản của Điều 3 nhưng không bao gồm quy định về nguyên tắc phân quyền triệt để, toàn diện và phân định rõ thẩm quyền. Trong khi đó, theo chính dự thảo, khu kinh tế đặc biệt là nơi được áp dụng các cơ chế, chính sách vượt trội. Nếu thiếu một nguyên tắc rõ ràng về phân định thẩm quyền, rất dễ phát sinh sự chồng lấn giữa chính quyền cấp tỉnh và chính quyền khu kinh tế đặc biệt.
Qua đó, đại biểu đề nghị bổ sung vào Điều 4 một khoản quy định về nguyên tắc phân định rõ thẩm quyền tương ứng. Đây là đề xuất có ý nghĩa quan trọng bởi phân quyền không chỉ đơn thuần là trao thêm quyền mà còn phải xác định rõ ai có quyền quyết định và ai chịu trách nhiệm. Khi ranh giới thẩm quyền không rõ, cơ quan được giao nhiệm vụ có thể thiếu chủ động, trong khi cơ quan cấp trên vẫn phải tham gia xử lý nhiều vấn đề. Điều này có thể làm giảm hiệu quả của chính mô hình đặc thù mà dự thảo luật đang hướng tới.
Một nội dung đáng chú ý khác trong phát biểu là đề nghị nghiên cứu giao thêm nhiệm vụ, quyền hạn quản lý đối với các khu bảo tồn, vườn quốc gia cho khu kinh tế đặc biệt trong trường hợp các khu này nằm hoàn toàn trên địa bàn khu kinh tế đặc biệt. Theo đại biểu, việc thống nhất thẩm quyền quản lý trong phạm vi địa giới khu kinh tế đặc biệt có thể giúp giảm thủ tục hành chính, tăng tính chủ động của chính quyền địa phương và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Đáng chú ý, đại biểu đề nghị bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn cho khu kinh tế đặc biệt trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đối với khu bảo tồn nằm trong địa giới hành chính của khu kinh tế đặc biệt theo quy định của pháp luật. Về bản chất, đề xuất này nhằm bảo đảm sự thống nhất giữa địa giới quản lý và thẩm quyền quản lý, qua đó hạn chế tình trạng nhiều cơ quan cùng tham gia xử lý một vấn đề nhưng trách nhiệm cuối cùng lại không rõ ràng.
Đối với công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, đại biểu tập trung vào một vấn đề phát sinh từ thực tiễn là việc tái lập các công trình công cộng sau khi thu hồi đất. Theo đại biểu, trong nhiều trường hợp, yêu cầu về quy chuẩn kỹ thuật và quy hoạch tại vị trí mới cao hơn so với thời điểm công trình được đầu tư ban đầu. Vì vậy, mức bồi thường tính theo giá trị công trình cũ có thể không đủ để xây dựng lại công trình mới đáp ứng đầy đủ các yêu cầu hiện hành. Nếu khoảng chênh lệch này không được xử lý, đơn vị quản lý tài sản có thể phải bổ sung nguồn vốn đầu tư công ngoài dự toán đã được phê duyệt hoặc chấp nhận xây dựng công trình thay thế không đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn. Cả hai phương án đều đặt ra những vấn đề về hiệu quả quản lý, sử dụng tài sản công và khả năng duy trì các dịch vụ thiết yếu. Từ thực tế đó, đại biểu đề nghị nghiên cứu cơ chế cho phép UBND khu kinh tế đặc biệt xem xét, chấp thuận hình thức hoàn trả bằng công trình trên cơ sở văn bản đề nghị tự nguyện của đơn vị có tài sản. Điểm quan trọng trong đề xuất là cơ chế này không thay thế quyền được bồi thường bằng tiền theo pháp luật đất đai mà nhằm tạo thêm một phương thức phù hợp để bảo đảm giá trị và công năng của tài sản công.