Mỗi độ Tết đến, Quảng Ninh không chỉ rộn ràng sắc xuân nơi phố thị hay vùng biển đảo, mà còn ấm áp bởi những “mùa Tết" rất riêng của đồng bào các dân tộc. Ở đó, Tết không chỉ là mốc thời gian chuyển giao, mà là một hệ thống nghi lễ, phong tục và ký ức được cộng đồng gìn giữ bền bỉ. Từ vùng núi, xa xôi của phường Hà Tu, Hoành Bồ tới miền biên giới Bình Liêu, các sắc màu Tết của đồng bào Sán Dìu, Tày, Dao Thanh Phán hiện lên vừa khác biệt vừa đồng điệu, làm nên bức tranh văn hóa đa sắc.
Trong dòng chảy văn hóa đa dạng ở Quảng Ninh, Tết cổ truyền của người Sán Dìu ở Hà Phong cũ (nay là phường Hà Tu), Sơn Dương cũ (nay là phường Hoành Bồ) hay đặc khu Vân Đồn mang sắc thái lặng lẽ nhưng sâu bền. Chuyên gia Trần Quốc Hùng (Trung tâm Nghiên cứu, Bảo tồn và Phát triển văn hóa Sán Dìu Việt Nam), người tham gia nhiều dự án nghiên cứu về người Sán Dìu ở Quảng Ninh chia sẻ: Với người Sán Dìu, Tết không chỉ bắt đầu từ mâm cỗ, mà bắt đầu từ ban thờ tổ tiên và lòng biết ơn tiền nhân.
Theo phong tục, việc dọn dẹp ban thờ trong gia đình người Sán Dìu chỉ được thực hiện đúng vào ngày 30 Tết và chọn giờ đẹp nhất trong ngày nhưng tuyệt đối không làm sớm hay muộn. Trước khi lau dọn ban thờ, gia đình phải dọn dẹp nhà cửa gọn gàng, chuẩn bị chu đáo mọi thứ, thể hiện sự kính cẩn đối với tổ tiên và thần linh. Cùng với đó, nhiều nhà dán giấy đỏ trước cửa như dấu hiệu báo Tết đã về, đồng thời gửi gắm ước mong xua tan điều xui rủi, đón may mắn trong năm mới.
Ở những bản làng còn giữ đậm nếp xưa, người Sán Dìu còn lên tận phần mộ làm lễ mời gia tiên, ông bà, cha mẹ đã khuất về ăn Tết cùng con cháu. Nghi lễ giản dị nhưng trang nghiêm, phản ánh quan niệm gắn bó bền chặt giữa người sống và người đã khuất... Bởi vậy, bữa tất niên 30 Tết mang ý nghĩa đặc biệt: trên mâm cúng thường có bánh bạc đầu làm từ gạo nếp và những món ăn ngon đặc trưng nhất, được chế biến từ nông lâm sản, thành quả lao động suốt năm. Người Sán Dìu quan niệm Tết là dịp “báo cáo” với tổ tiên bằng những điều tinh túy nhất, trước khi con cháu quây quần hưởng lộc. Trong mâm cỗ ngày Tết của người Sán Dìu còn có sự hiện diện của bánh chưng vuông, bánh chưng gù và bánh tài lồng ệp (làm từ bột nếp, nước gừng và đường phèn) thắp hương cúng tổ tiên từ 30 Tết.
Khác với nhiều cộng đồng dân tộc khác, người Sán Dìu không có tục cúng giao thừa mà dành trọn sự thành kính vào các nghi lễ dâng cúng tổ tiên trong hai ngày trọng đại: 30 và mùng 1 Tết. Đặc biệt, trên mâm lễ đầu năm của nhiều gia đình vẫn lưu giữ nét phong tục độc đáo với 5 bát rau nhỏ đặt cạnh 5 khoanh bánh chưng, biểu trưng cho sự hòa hợp và ước nguyện đủ đầy.
Bước sang mùng 1, lễ vật được chuẩn bị công phu hơn với gà luộc, xôi nếp và các loại bánh truyền thống. Trong đó, bánh rán mùng 1 giữ vai trò là vật phẩm tượng trưng cho vận may. Từng chiếc bánh được làm từ gạo nếp tinh tuyển, giã nhuyễn và rán vàng rực rỡ. Người Sán Dìu tin rằng, những chiếc bánh nở phồng, tròn trịa là điềm báo cho một năm mới hanh thông; ngược lại, bánh xẹp hay cháy sém được coi là sự trắc trở. Bởi thế, từng công đoạn làm bánh đều được thực hiện hết sức cẩn trọng như một cách "giữ vía" an lành cho cả gia đình.
Ẩm thực Tết của người Sán Dìu không chỉ là thành quả lao động mà còn là hiện thân của tri thức dân gian được trao truyền qua nhiều thế hệ. Linh hồn của mâm cỗ Tết chính là khau nhục - món ăn cầu kỳ được chế biến từ những miếng ba chỉ ngon nhất của loại lợn béo nuôi đủ năm, quyện cùng các loại gia vị đặc trưng và thảo mộc núi rừng. Qua nhiều giờ hầm kỹ, từng miếng thịt trở nên mềm tan, thơm nồng, vừa là món ngon đãi khách, vừa là lễ vật tôn nghiêm dâng cúng tổ tiên, tượng trưng cho ước nguyện về một cuộc sống sung túc, đủ đầy.
Bên cạnh khau nhục, đĩa bánh trôi trắng ngần cũng giữ vị trí trang trọng trên ban thờ. Đây là lễ vật riêng biệt dành để tưởng nhớ "Bà cô Tổ", một nét đẹp trong đạo lý tri ân, nhắc nhớ con cháu về cội nguồn và huyết thống dòng họ mỗi dịp xuân về.
Song hành với phần lễ trang nghiêm là quy ước về những điều kiêng kỵ, phản ánh thế giới quan nhân sinh sâu sắc của người Sán Dìu. Trong ba ngày Tết, người Sán Dìu tuyệt đối không quét nhà, bởi quan niệm hành động này sẽ xua đuổi tài lộc và may mắn mà tổ tiên vừa ban tặng. Mọi bụi bặm chỉ được gom gọn vào một góc và đợi đến mùng 3 mới được dọn sạch.
Để giữ cho vận khí hanh thông, họ cũng kiêng kỵ việc vay mượn tiền bạc hay gạo thóc suốt từ mùng 1 cho đến tận rằm tháng Giêng. Đặc biệt, hình ảnh ngọn lửa - biểu tượng của sự ấm no và sức sống - luôn được trân trọng giữ gìn. Nếu xưa kia, bếp lửa trong mỗi gia đình phải được ủ ấm không tắt suốt những ngày Tết, thì ngày nay, dù bếp củi dần thay thế bằng tiện nghi hiện đại, người Sán Dìu vẫn duy trì ý niệm đó bằng cách thắp đèn, nến sáng liên tục trên ban thờ. Đó là cách họ giữ cho "ngọn lửa" tổ tiên luôn soi sáng và sưởi ấm nếp nhà.
Tết cũng là dịp để người Sán Dìu thực hành đạo lý tri ân. Theo phong tục, các cặp vợ chồng mới cưới trong năm đầu phải gánh bánh tài lồng ệp cùng một con gà thiến đến chúc Tết “mối nhân” – người đã se duyên cho đôi lứa. Khi dư âm ngày Tết dần khép lại, họ tổ chức lễ hóa vàng vào mùng 6 để đánh dấu mốc kết thúc Tết cổ truyền. Giữa dòng chảy hiện đại, những nghi thức ấy vẫn tồn tại như sợi dây bền bỉ nối liền quá khứ và hiện tại, giữ vẹn nguyên sự nghiêm cẩn và ấm áp nghĩa tình.
Nơi miền biên viễn, giữa những dãy núi trùng điệp ôm trọn bản làng, người Tày tại Bình Liêu, Lục Hồn, Hoành Mô… vẫn gìn giữ vẹn nguyên những phong tục Tết độc đáo. Ông Tô Đình Hiệu, Giám đốc Trung tâm Cung ứng dịch vụ công xã Bình Liêu, người nghiên cứu sâu về văn hóa người Tày chia sẻ: Tết Nguyên đán của người Tày ở Bình Liêu mang nhịp điệu riêng: chậm rãi, lắng sâu và thấm đẫm tính cộng đồng. Họ còn lưu giữ và truyền lại cho thế hệ sau nhiều nét đẹp truyền thống.
Tết Nguyên đán của người Tày mang nhịp điệu riêng, chậm rãi, lắng sâu và thấm đẫm tính cộng đồng. Không khí Tết lan toả từ những ngày cuối tháng Chạp qua không khí chuẩn bị rộn ràng: từ việc lên rừng hái lá dong, ra suối rửa sạch gạo nếp, đến khi bếp lửa đỏ rực hòa cùng những câu chuyện truyền đời của nhiều thế hệ.
Với người Tày, Tết là hành trình hướng về nguồn cội. Ban thờ tổ tiên là nơi trang trọng nhất diễn ra các nghi lễ từ đêm giao thừa đến các tuần hương đầu năm. Mâm cúng truyền thống ngoài gà, thịt lợn, rượu, nhất thiết phải có bánh coóc mò – loại bánh hình sừng bò gắn bó mật thiết với tâm thức dân tộc. Trong không gian gỗ ấm áp, làn khói hương bảng lảng cùng lời khấn mộc mạc tạo nên một không khí Tết vừa gần gũi, vừa thiêng liêng.
Nét đẹp bền vững nhất chính là khoảnh khắc cả gia đình cùng quây quần gói bánh. Bên cạnh bánh chưng dài, người Tày Bình Liêu còn gói cặp bánh chưng “bố” và “mẹ” với hình thức riêng biệt, biểu trưng cho sự hòa hợp âm dương, sinh sôi và đủ đầy. Cặp bánh được đặt trang trọng trên ban thờ như lời cầu chúc gia đình êm ấm, cuộc sống vững bền. Quá trình gói bánh cũng là dịp để người lớn truyền dạy cho con cháu về tri thức dân gian, kinh nghiệm sản xuất và những chuẩn mực ứng xử trong dòng họ.
Bước sang thời khắc tân niên, nghi lễ “lấy nước đầu năm” trở thành điểm nhấn văn hóa đặc sắc. Sáng mùng 1, người được chọn có “vía tốt” sẽ gánh nước từ suối đầu bản về nhà. Dòng “nước lộc” tinh khôi này tượng trưng cho sinh khí mới, mang theo ước nguyện mưa thuận gió hòa, gia đình khỏe mạnh. Đặc biệt, người Tày còn lưu giữ tục treo bánh coóc mò ở cửa sổ hoặc cổng nhà như một phần quà dành cho những linh hồn không nơi nương tựa. Phong tục giàu tính nhân văn này phản ánh thế giới quan bao dung: Tết là dịp để sẻ chia, không chỉ giới hạn trong cõi nhân gian.
Trước đó, vào ngày 30, những mảnh giấy đỏ được dán lên ban thờ, nông cụ và chuồng trại như lời cầu may cho mọi mặt đời sống. Nhiều nhà vẫn dựng cây nêu trước sân để đánh dấu ranh giới thiêng liêng giữa năm cũ và năm mới. Trong ngày mùng 1, người Tày giữ tục kiêng sát sinh để cầu mong một năm nhân ái, an lành. Khi nghi lễ gia đình khép lại, không gian Tết mở ra với tiếng đàn tính, làn điệu Then và các trò chơi dân gian, tạo nên bầu không khí vui tươi, đậm chất “Tày” giữa miền biên thùy.
Giữa những triền núi phường Hoành Bồ, ở khu Đèo Dọc, nơi cộng đồng Dao Thanh Phán quần tụ từ nhiều đời, vẫn gìn giữ được nếp sinh hoạt văn hóa truyền thống đặc trưng gắn với núi rừng và huyết thống. Ông Triệu Tiến Thông, người cao tuổi ở khu Đèo Dọc kể: Với người Dao Thanh Phán, Tết không chỉ gói trong vài ngày đầu năm mới, mà là cả một “mùa Tết” mở đầu bằng Tết làng - còn gọi Tết Nhà lớn, cái Tết chung của cộng đồng, mang ý nghĩa thiêng liêng và sâu sắc.
Khác với nhiều nơi, Tết không bắt đầu từ từng gia đình riêng lẻ. Cộng đồng thống nhất tổ chức Tết làng vào những ngày cuối tháng Chạp, trước Tết Nguyên đán. Ngày Tết được bàn bạc kỹ lưỡng để người con đi làm, đi học xa có thể thu xếp trở về. Khi ấy, nhà trưởng họ hoặc nhà thờ tổ trở thành trung tâm của bản, nơi con cháu các nhánh trong dòng họ tụ họp, làm Tết cho tổ tiên. Đây được coi là thời khắc thiêng liêng nhất trong năm, khi sự gắn kết giữa các thế hệ được nối liền trong một không gian chung.
Tết làng không phải điểm kết thúc mà là điểm khởi đầu cho chuỗi ngày Tết kéo dài theo từng lớp không gian. Sau Tết chung của bản và dòng họ, các gia đình tiếp tục tổ chức Tết tại nhà tổ, rồi đến Tết riêng ở từng mái nhà. Nhờ vậy, Tết lan tỏa từ cộng đồng đến gia đình, khiến không khí xuân ở Đèo Dọc chậm rãi, đầm ấm và bền bỉ: người trong bản có nhiều dịp gặp gỡ, thăm hỏi, chuyện trò, làm cho Tết thấm sâu vào đời sống.
Trước ngày Tết làng, công việc chuẩn bị diễn ra rộn ràng: dọn dẹp nhà cửa, sửa sang bàn thờ, chuẩn bị lễ vật. Một nét đặc biệt vẫn được duy trì là tự làm tiền giấy để dâng cúng tổ tiên. Những tờ giấy nhuộm vàng, cắt gọn gàng, đóng dấu theo lối truyền thống, với quan niệm đó là “lộ phí” để tổ tiên về sum họp, ăn Tết cùng con cháu. Việc chuẩn bị lễ không cầu kỳ, nhưng đòi hỏi chỉn chu và thành tâm: chọn gà, mổ lợn, đồ xôi, giã bánh, bày biện mâm lễ… Mỗi gia đình góp một phần công, một phần lễ, cùng làm nên cái Tết chung.
Trong ngày Tết làng, nghi lễ cúng tổ tiên giữ vị trí trung tâm. Người chủ lễ thay mặt dòng họ khấn cáo tổ tiên, tạ ơn bậc sinh thành đã che chở suốt năm qua, cầu mong năm mới bình an, mùa màng tươi tốt, con cháu khỏe mạnh, bản làng yên vui. Không khí nghi lễ trầm lắng, trang nghiêm, khiến người tham dự cảm nhận rõ sự giao thoa giữa quá khứ và hiện tại, giữa người đang sống và những thế hệ đã khuất.
Sau phần lễ là phần cỗ Tết - lúc không gian thiêng chuyển sang không khí sum họp gia đình lớn. Mâm cỗ không quá cầu kỳ nhưng đủ đầy: thịt gà, thịt lợn, bánh giầy, bánh chưng, xôi, rau rừng… Bữa cỗ không chỉ để ăn mà để sẻ chia: người già kể chuyện khai bản lập làng, lớp trẻ lắng nghe, học cách ghi nhớ phong tục, nền nếp dân tộc. Chính trong những câu chuyện ấy, bản sắc không nằm trên giấy, mà “sống” ngay giữa tiếng nói cười ngày Tết.
Điều làm nên sức sống bền bỉ của Tết làng ở Đèo Dọc là tinh thần tự quản và đồng thuận cộng đồng. Mọi việc - từ chọn ngày Tết, phân công chuẩn bị đến tổ chức nghi lễ - đều được bàn bạc thống nhất. Không áp đặt, không phân biệt, mỗi gia đình tự nguyện góp sức theo khả năng. Nhờ vậy, Tết làng được duy trì qua nhiều thế hệ, trở thành sợi dây gắn kết cộng đồng giữa những biến động của đời sống hiện đại. Ngày nay, dù nhiều người trẻ đi học, đi làm xa, cứ đến Tết làng, họ lại tìm về - không chỉ trở về địa lý, mà còn trở về với căn cước văn hóa của mình.
Tết của người Sán Dìu, Tày Bình Liêu hay Dao Thanh Phán ở Đèo Dọc khác nhau ở trình tự nghi lễ và cách thực hành phong tục, nhưng cùng gặp nhau ở giá trị cốt lõi: hướng về tổ tiên, giữ nếp nhà, gắn kết cộng đồng và gửi gắm ước vọng bình an - đủ đầy.
Trong bức tranh văn hóa Quảng Ninh, những “mùa Tết” ấy chính là tài sản văn hóa sống - càng lặng lẽ càng bền bỉ, càng mộc mạc càng hấp dẫn. Không chỉ riêng người Sán Dìu, Tày, hay Dao Thanh Phán, đồng bào Sán Chỉ, Dao Thanh Y, Sán Chay...cùng nhiều dân tộc anh em trên địa bàn tỉnh còn nhiều nét đẹp phong tục dịp Tết. Và từ đó, mỗi độ xuân về, tất cả làm nên sắc Tết lan tỏa từ bản làng đến phố thị, làm giàu sắc màu văn hóa vùng Mỏ.
Trình bày: Hùng Sơn