“Cây sáng kiến”, là tên mọi người trong Công ty Than Mạo Khê thường gọi kỹ sư trẻ Phạm Đình Khải, nhân viên Phòng Kỹ thuật Công nghệ-Môi trường (KCM) của Công ty.
Suốt quá trình công tác ở đây (từ cuối năm 2002 đến nay), Khải luôn không ngừng học tập, nâng caotrình độ chuyên môn, đề xuất nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, ứng dụng vào thực tế. Khải đã 4 lần được Tổng LĐLĐ Việt Nam tặng “Bằng lao động sáng tạo” và đặc biệt Khải vừa vinh dự được bình chọn là một trong 10 gương mặt trẻtiêu biểu cả nước năm 2007.
Từ ý tưởng nảy sinh từ thực tế công việc... Người đậm chắc, rắn rỏi, nước da ngăm đen, giọng nói dõng dạc, truyền cảm... đó là ấn tượng của tôi khi lần đầu tiếp xúc với Khải. Sinh năm 1980, trong gia đình làm nghề kinh doanh, buôn bán, thế nhưng Khải lại chọn học chuyên ngành khai thác mỏ (Trường Đại học mỏ địa chất-Hà Nội) và được bố mẹ ủng hộ. Sự hậu thuẫn của gia đình đã khích lệ Khải rất nhiều trong thời gian theo học tại trường, năm nào anh cũng đạt loại ưu. Tháng 7-2002, tốt nghiệp, anh được nhận vào làm việc tại Phân xưởng Khai thác 1 (Công ty Than Mạo Khê); từtháng 1-2003 đến nay chuyển về Phòng KCM của Công ty với nhiệm vụ quản lý công trường, lập hồ sơ khai thác, đào lò, theo dõi cấp phát vật tư và giám sát hướng dẫn việc thi công tại hiện trường... Chúng tôi đến Phòng KCM nơi Khải làm việc. Cả phòng có hơn chục người đều đang làm việc hết sức khẩn trương. Khải đang say sưa bên chiếc máy vi tính của mình. Khải bảo: “Cả phòng đang ra sức thi đua, cố gắng về đích, thực hiện thắng lợi đợt thi đua do BCH Đoàn Thanh niên Công ty phát động hưởng ứng Tháng Thanh niên và 76 năm Ngày thành lập Đoàn…”. Chúng tôi hỏi Khải về những sáng kiến anh đã làm, động lực nào đã giúp Khải liên tục có những sáng kiến và gặt hái được nhiều thành công như vậy? Khải tâm sự:“Qua quá trìnhlàm việc đã giúp tôi tiếp cận gần hơn thực tiễn sản xuất và nhận thấy còn có một số công đoạn sản xuất kém hiệu quả, chưa thật sự phù hợp. Thực tế đó đã thôi thúc tôi phải làm như thế nào đó, tìm ra các sáng kiến, giải pháp phù hợp để hợp lý hoá sản xuất, nâng cao hiệu suất công việc, đồng thời đảm bảo an toàn cho người lao động...”. Với suy nghĩ như vậy, cộng với tinh thần xung kích tình nguyện của tuổi trẻ, không sợ khó khăn gian khổ, tinh thần cầu thị giám chấp nhận thất bại… Khải đã tìm tòi, nghiên cứu đề xuất những sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất được ứng dụng vào thực tế sản xuất mang lại hiệu quả. Theo Khải: “Mỗi sáng kiến cải tiến kỹ thật còn là điều kiện để anh học tập nâng cao trình độ”. Tuy nhiên “lần đầu tiên viết sáng kiến đề xuất các giải pháp, tôi cũng gặp phải không ít khó khăn về chuyên môn, cách thể hiện, trình bày sáng kiến...”. Vì theo Khải, dù đây là lĩnh vực chuyên môn đã được học nhưng khi áp dụng vào thực tiễn công việc vẫn không tránh khỏi những khó khăn nhất định, thế nhưng anh không bao giờ nản chí. Bên cạnh đó, phải kể đếnsự quan tâm, tạo điều kiện của lãnh đạo, sự hỗ trợ của các phòng, ban nghiệp vụ, chuyên môn và tổ chức Đoàn Thanh niên Công ty đã giúp Khải nhanh chóng thực hiện thành công và biến những ý tưởng của mình thành những sáng kiến cụ thể. ...Đếnnhững sáng kiến cải tiến kỹ thuật Sáng kiến đầu tiên của anh được công nhận và ứng dụng vào thực tế mang lại giá trị làm lợi lớn và hiện đang được áp dụng là“Phương án để lạitrụ bảo vệ lò dọc vỉa than cho thượng đá, rút ngắn thời gian thu hồi tiết kiệm vật tư, đảm bảo an toàn tại vỉa 7 Tây, xuyên vỉa 56- I tầng- 25/+30”. Sáng kiến này còn mang về cho anh tấm “Bằng lao động sáng tạo” do Tổng LĐLĐ Việt Nam trao tặng. Không tự bằng lòng với thành công có được, anh càng say mê và quyết tâm hơn trong công việc của mình. Anh tâm sự: “Tôi tự nhận thấy những việc mình đã làm được còn quá nhỏ bé và sẽ không thể thành công nếu không có sự tạo điều kiện, giúp đỡ của lãnh đạo Công ty, của đồng nghiệp và người thân trong gia đình. Tôi sẽ cố gắng nhiều hơn nữa để tìm ra những giải pháp hiệu quả nhất trong sản xuất, đóng góp một phần nhỏ bé vào sự phát triển ngày càng lớn mạnh của Công ty”. Từ năm 2003 đến nay, anh đã có 17 sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất được áp dụng vào thực tế. Trong số đó, phải kể đến các sáng kiến được Tổng LĐLĐ Việt Nam tặng “Bằng lao động sáng tạo”:“Đề xuất thăm dò dọc vỉa cúp 7 Đông mức +30 vỉa 7 Tây xuyên vỉa 56- I tầng 25, diện sản xuất nằm ngoài thiết kế và khai thác tận thu than bằng công nghệ khai thác buồng thượng, bắn rút lò dọc vỉa phân tầng”;“Giải pháp thay cột thuỷ lực đơn dịch trong NDZ- 22 ở lò chợ chia lớp ngang nghiêng bằng cột đơn dịch ngoài DZ- 22”, giúp nâng cao công suất lò chợ, giảm chi phí mét xén; “Giải pháp vừa đào thượng khởi điểm vừa tổ chức khai thác than lò chợ chia lớp nghiêng ngang”, giảm thời gian đào thượng, giảm chi phí bảo vệ đường lò dọc vỉa, đẩy nhanh tiến độ thi công, khai thác than đảm bảo sản lượng cho Phân xưởng KT11 trong mùa mưa... Chúng tôi hỏi về sáng kiến gần đây nhất của Khải trong quý III năm 2006 là “Giải pháp vận tải cho Phân xưởng khai thác 8”, Khải cho biết: Phương án vận tải ban đầu thì than từ lò chợ được tự chảy xuống lò dọc vỉa, qua hệ thống máng cào đưa ra ngã cúp rồi đổ xuống goòng 3 tấn đặt ở lò dọc vỉa đá... Tuy nhiên do hệ thống vận tải phục vụ cho các diện sản xuất thuộc các phân xưởng KT1, KT2, KT3 khi kéo tải ra ga mức -80 và cấp vỏ xe không đều qua lò dọc vỉa 6 Đông mức –80, nếu phân xưởng KT8 sản xuất chắc chắn sẽ ách tắc, ảnh hưởng lớn đến kế hoạch sản xuất của Công ty. Do diện sản xuất của các phân xưởng KT1, KT2, KT3 đều có sản lượng lớn trên 400 tấn ngày, để tránh gặp phải sự cố trên chúng tôi đã đề xuất phương án chất tải của Phân xưởng khai thác 8 như sau: Than từ lò chợ được chảy xuống lò dọc vỉa than, qua hệ thống máng cào đưa ra ngã 3 lò, dọc vỉa và xuyên vỉa cúp, rồi đổ xuống goòng 3 tấnđặt ở lò dọc vỉa và xuyên vỉa cúp. Với giải pháp như trên đã khai thông được lò dọc vỉa đá Vỉa 6 Đông mức -80, đáp ứng được công tác vận tải cho các diện sản xuất của các phân xưởng và nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh của Công ty... Dù lờ mờ về các lĩnh vực chuyên môn kỹ thuật, thế nhưng khi được Khải say sưa, tận tình giải thích về những sáng kiến của mình đã giúp chúng tôi hiểu hơn về công việc mà anh và các đồng nghiệp đang làm. Đối với anh, được lao động, sáng tạo, nghiên cứu là một niềm đam mê! Chia tay người kỹ sư trẻ, chúng tôi nhớ tới câu nói “Thành công chỉ đến với những người dám nghĩ, dám làm”. Điều này càng đúng hơn với thế hệ trẻ, những đoàn viên thanh niên thế hệ Hồ Chí Minh như Phạm Đình Khải.
Phạm Đình Khải (trái) hướng dẫn công nhân Phân xưởng cơ khí kỹ thuật uốn vì chống lò bằng thép.