Chắp cánh từ nguồn nhân lực

Nhìn lại quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Quảng Ninh những năm qua, có thể thấy, công tác giáo dục - đào tạo đã có rất nhiều đóng góp quan trọng, đáp ứng kịp thời yêu cầu của tỉnh về đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, từ đó đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Từ đây, có biết bao học trò, bao tấm gương sáng đã được ươm mầm và trở thành những nhân tài cống hiến cho tỉnh và đất nước.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vũ Thị Thu Thuỷ tặng hoa Trường PT Dân tộc bán trú Tiểu học và THCS Hà Lâu (xã Hà Lâu, huyện Tiên Yên) nhân dịp khai giảng năm học mới 2013-2014.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vũ Thị Thu Thuỷ tặng hoa Trường PT Dân tộc bán trú Tiểu học và THCS Hà Lâu (xã Hà Lâu, huyện Tiên Yên) nhân dịp khai giảng năm học mới 2013-2014.

Nhiều chính sách mới

Trong buổi làm việc với Quảng Ninh vào hồi đầu tháng 8 vừa qua, đồng chí Lê Văn Học, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Văn hoá, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội cũng phải thừa nhận rằng, Quảng Ninh là một trong những tỉnh của cả nước không chỉ triển khai kịp thời các văn bản của T.Ư và Bộ GD-ĐT mà còn ban hành kịp thời rất nhiều cơ chế, chính sách phù hợp để tạo sự chuyển biến đồng bộ trong ngành giáo dục - đào tạo. Khá nhiều văn bản được tỉnh ban hành đã thể hiện sự vận dụng sáng tạo của tỉnh trong việc thực hiện các nội dung liên quan đến đảm bảo, nâng cao chất lượng giáo dục. Đơn cử như: Quyết định của UBND tỉnh ngày 9-11-2006 về việc phê duyệt Đề án Kiên cố hoá trường, lớp học và xây dựng trường chuẩn quốc gia năm 2006 đến năm 2010, định hướng đến năm 2015; Quyết định của UBND tỉnh ngày 14-8-2012 về việc hỗ trợ tiền ăn cho đối tượng học sinh bán trú đang học THPT, học trung cấp nghề hoặc học văn hoá THPT kết hợp với học nghề trong các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh; hỗ trợ thiết bị dạy học cho các cơ sở giáo dục ngoài công lập lên tới gần 13 tỷ đồng... Điều này đã góp phần giảm sự chênh lệch giữa giáo dục miền ngược - miền xuôi và giữa giáo dục công lập - ngoài công lập.

Trong số những cơ chế, chính sách ấy, không thể không kể đến việc tỉnh đã rất quyết tâm trong việc xúc tiến thành lập Trường Đại học Hạ Long (đại học đa ngành của tỉnh). Đây là cơ hội lớn để tỉnh thực hiện mục tiêu đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh. Quyết tâm này được thể hiện ở chỗ, tỉnh liên tiếp mở những cuộc họp đối với các thành viên trong BCĐ xây dựng Trường Đại học Hạ Long để rà soát, thống nhất, hoàn thiện các nội dung trình lên Bộ GD-ĐT. Nhờ đó, đến nay, các công tác triển khai dự án thành lập Đại học Hạ Long đã được triển khai tích cực. Các nội dung liên quan đến địa điểm quy hoạch trường, quy hoạch về điều kiện, thủ tục thành lập trường, số lượng, danh sách đội ngũ cán bộ giáo viên… đã và đang được rà soát, hoàn thiện nhanh chóng. Đồng chí Ngô Văn Hợi, Phó Giám đốc Sở GD-ĐT, Phó Trưởng BCĐ xây dựng Trường Đại học Hạ Long cho hay: “Nhận được sự chỉ đạo quyết liệt của tỉnh và sự đồng thuận, nhất trí của các thành viên trong BCĐ, vậy nên, công tác chỉnh sửa, hoàn thiện dự án được đẩy nhanh và thuận lợi hơn rất nhiều”.

Phòng thư viện khang trang, đẹp mắt của Trường Tiểu học Trưng Vương (TP Uông Bí).
Phòng thư viện khang trang, đẹp mắt của Trường Tiểu học Trưng Vương (TP Uông Bí).

Đón đợi với nhiều kỳ vọng

Quả thật, sự quan tâm, chỉ đạo sát sao ấy của tỉnh chính là điều kiện giúp thầy và trò ngành giáo dục - đào tạo tỉnh có thêm quyết tâm, nghị lực vượt qua những khó khăn, từng bước nâng cao chất lượng dạy và học. Quảng Ninh tự hào rằng từ năm 2010, các trường phổ thông của tỉnh không còn phòng học tạm, phòng học 3 ca. Đến nay, trên địa bàn tỉnh không còn tình trạng “trắng” lớp mầm non ở các thôn, bản vùng sâu, vùng xa. Theo báo cáo của Sở GD-ĐT, trong những năm qua, quy mô trường lớp ở các cấp học tiếp tục được củng cố và phát triển. Hiện toàn tỉnh có 634 trường học các cấp; trong đó có 594 trường công lập (chiếm 93,7%); có 40 trường ngoài công lập (chiếm 6,3%). Tỷ lệ phòng học kiên cố hiện nay đạt 84,5%; tỷ lệ trường chuẩn quốc gia đạt 51%. Để có được kết quả này, trong suốt 10 năm gần đây (từ năm 2003 đến năm 2012), ngân sách nhà nước chi cho giáo dục phổ thông lên tới 9.156/12.653 tỷ đồng dành cho hoạt động GD-ĐT nói chung. Trong đó, ngân sách tỉnh là 8.871 tỷ đồng, ngân sách T.Ư là 285 tỷ đồng. Đối với nguồn chi của ngân sách tỉnh, công tác đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cũng được dành tới 1.758 tỷ đồng, còn lại 7.397 tỷ đồng là chi thường xuyên để duy trì hoạt động các cơ sở giáo dục phổ thông.

Cũng từ đây, chất lượng GD-ĐT của tỉnh đã từng bước được củng cố, khẳng định. Cụ thể: Tỷ lệ huy động trẻ đến trường, lớp của Quảng Ninh đều cao hơn tỷ lệ chung của cả nước; kết quả phổ cập giáo dục tiểu học, THCS tiếp tục được duy trì, giữ vững; chất lượng giáo dục phổ thông của tỉnh đứng đầu các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc, nhiều năm liền nằm trong top 10 tỉnh đứng đầu cả nước. Các cuộc vận động, phong trào thi đua của ngành giáo dục tiếp tục được tỉnh thực hiện hiệu quả. Trong các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia các môn văn hoá, các cuộc giao lưu trí tuệ khác ở các cấp, Quảng Ninh đều mang về những giải cao. Gần đây nhất, trong năm học 2012-2013, Quảng Ninh có 58 học sinh đạt giải trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia. Bao gồm: 48 học sinh đạt giải trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia các môn văn hoá (giữ nguyên số học sinh đạt giải so với năm học 2011-2012 nhưng chất lượng tăng) và 10 học sinh đạt giải trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia trên máy tính.

Chắc chắn rằng, với những cơ chế chính sách quyết đoán của tỉnh và sự quyết tâm của ngành giáo dục, sự nghiệp giáo dục - đào tạo Quảng Ninh sẽ tiếp tục có những thắng lợi mới, thực hiện có hiệu quả mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, góp phần duy trì và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cũng như giáo dục mũi nhọn của tỉnh trong những năm tới.

Ngành GD-ĐT hiện có 23.082 cán bộ, công chức, viên chức, lao động

- Cấp học Mầm non: 98,6% giáo viên và 95,6% cán bộ quản lý đạt trình độ chuẩn trở lên (trong đó, 51% giáo viên đạt trình độ trên chuẩn).

- Cấp Tiểu học: 100% giáo viên, cán bộ quản lý đạt chuẩn trở lên (trong đó, 78,2% giáo viên đạt trên chuẩn, 96,1% cán bộ quản lý đạt trên chuẩn).

- Cấp THCS: 99,6% giáo viên, cán bộ đạt chuẩn trở lên (trong đó, 32,5% giáo viên đạt trên chuẩn, 64% cán bộ quản lý đạt trên chuẩn).

- Cấp THPT và GDTX: 100% giáo viên, cán bộ quản lý đạt chuẩn (trong đó, 8,2% giáo viên đạt trên chuẩn; 15% cán bộ quản lý đạt trên chuẩn).

Lan Anh

Cùng chuyên mục