Nói đến đặc sản ở Quảng Ninh hiện nay, nếu là đặc sản của rừng, người ta nhớ ngay đến cây ba kích; còn nếu là đặc sản của biển, thì hẳn không ai quên một loài hải sản có tên gọi sá sùng!
Và cũng như cây ba kích mọc ở nhiều nơi nhưng được ưa chuộng nhất là ba kích Ba Chẽ, sá sùng không chỉ có ở Quan Lạn, Minh Châu (hai xã đảo thuộc huyện Vân Đồn), song những người sành nhậu thì vẫn luôn coi sá sùng ở hai vùng biển này là loại thượng hạng...
Đào sá sùng ở xã Minh Châu, huyện Vân Đồn.
Ảnh: V.C.T
“Trai khôn tìm vợ... bãi sá sùng!"
ở các miền quê vùng đồng bằng Bắc bộ thường vẫn lưu truyền câu ca dao: “Trai khôn tìm vợ chợ đông” nhưng với Minh Châu và Quan Lạn, có lẽ nơi mà các chàng trai khôn ngoan tìm vợ phù hợp hơn phải là... bãi sá sùng! Bởi lẽ, vào mùa khai thác sá sùng (khoảng từ tháng 3 đến tháng 7) thì gần như số đông các cô gái có mặt tại các bãi sá sùng trên đảo. Và ở đó, các cô gái có dịp thể hiện sự giỏi giang trong công việc của mình một cách rõ nhất... Ông Vương Văn Tý, 72 tuổi, thôn Minh Hải, là người hiểu hơn ai hết về điều này. Vợ ông, bà Bùi Thị Hạt, 69 tuổi, làm nghề đào sá sùng từ năm bà 15 tuổi. Mặc dù hiện nay 2 ông bà đã có một khu nhà nghỉ khá khang trang để kinh doanh dịch vụ du lịch, nhưng hàng ngày bà Hạt vẫn xắn quần, vác mai đi đào sá sùng như ngày xưa. Ông Tý thường nói nửa đùa nửa thật, rằng chính “cái nết” đào sá sùng của bà Hạt đã “chinh phục” ông... Ông còn kể: ngày xưa, cánh trai làng như ông thường cũng ra bãi, nhưng không chỉ để đào sá sùng mà chủ yếu là để ''tán tỉnh'' các cô gái làng!
Tuy hiện nay Minh Châu và Quan Lạn đã phát triển, không còn ''heo hút'' như xưa và các đôi trai gái đã có nhiều nơi để ''hò hẹn'', nhưng số phụ nữ làm nghề khai thác sá sùng vẫn rất đông. Như ở Minh Châu chẳng hạn, xã có bãi sá sùng rộng hơn 100 ha (được coi là một trong những bãi sá sùng lớn nhất nước ta) và hiện tại có khoảng 200 hộ sống bằng nghề đào sá sùng, thì nhân công chủ yếu vẫn là các bà vợ hoặc các cô con gái. Điều này có lẽ là do sá sùng vốn sống vùi mình trong đáy bùn cát ven biển, chỉ thò ra một vòi ngắn, nên khai thác nó đòi hỏi phải có tính kiên nhẫn, dẻo dai, chịu khó. Mà đặc tính này phụ nữ luôn nổi trội hơn cánh mày râu...
Sá sùng - "vị cứu tinh" của dân đảo
Đó là câu chuyện dài mà những người già trên đảo Minh Châu hay Quan Lạn vẫn còn nhớ. Ông Vương Văn Tý kể lại:
Trước đây nghề đào sá sùng đã cứu cả làng qua trận đói năm 1945. Năm đó cả xã mất mùa, lại thêm một trận bão lớn đổ về khiến nhà cửa, cây cối tan hoang. Nhiều người bỏ làng ra đi lang thang nơi đất khách kiếm sống. Năm đó ông Tý mới lên 9 tuổi, ông vẫn hình dung bóng dáng người cha mình gầy gò bế các con xuống thuyền vượt biển vào đất liền. Thế nhưng, mảnh đất đô thị với những phố xá ồn ào lại không giang tay đón họ. Cuối cùng, họ đành phải trở về đảo. Và một điều ''thần kỳ'' đã xảy ra; năm đó khu rừng trâm (hiện nay vẫn tồn tại ở xã) lại ra rất nhiều quả. Đàn ông Minh Châu vào rừng hái quả trâm ăn thay cơm, còn phụ nữ xuống biển đào sá sùng ăn thay canh. Gia đình ông và nhiều người dân trong xã đã ăn sá sùng, ăn quả trâm suốt ba tháng để sống qua trận đói lịch sử năm ất Dậu - 1945. Cho đến nay người dân Minh Châu vẫn truyền lại cho con cháu lòng biết ơn và ý thức bảo vệ rừng trâm cũng như bảo vệ nguồn lợi hải sản là sá sùng.
Hoà bình lập lại, HTX Minh Hải được thành lập trên đất Minh Châu. Ông Tý là một trong những cán bộ lãnh đạo HTX Minh Hải, từ đó ông đã nảy sinh ra ý định bảo tồn và nuôi sá sùng... Nhưng vì nhiều lý do, ý định đó đã không thành hiện thực. Nhắc lại với chúng tôi chuyện này, ông Tý vẫn còn rất xúc động. Ông kể: “- Vào năm 1970, đã có một đoàn các nhà khoa học đến nghiên cứu về sá sùng ở Minh Châu. Họ tìm đến khu bãi nhiều sá sùng rồi khoanh vùng, sau đó đào cả khoảnh đất đó sâu xuống 1m rồi mang đến vùng biển khác, hy vọng sá sùng sẽ đến sinh sống; nhưng thời gian trôi đi mà vẫn chẳng có. Trong khi đó, ở khu đất đã được đào đi ấy, từ dưới độ sâu 1m lại trồi lên những tổ sá sùng mới...". Rồi ông kết luận: ''-Không phải chỗ nào sá sùng cũng sống, dù có đào cả bãi Minh Châu mang đi chỗ khác cũng vô ích thôi!". Hay nói cách khác, ''Trời đã đưa ''vị cứu tinh'' này đến cho đảo. Thời đói kém là để giúp dân chống đói, còn thời nay là để giúp dân làm giàu!”...
Và nguy cơ suy kiệt nguồn lợi này...
Có thể nói, với người dân hai xã đảo này, sá sùng thực sự đã giúp họ không chỉ xoá đói mà còn vươn lên làm giàu. ở Minh Châu đã thế, ở Quan Lạn còn hơn thế! Quan Lạn có bãi sá sùng rộng hơn ở Minh Châu, với diện tích khoảng 150 ha. Phải nói rằng hiện nay gần 100% người dân Quan Lạn có cuộc sống gắn liền với nghề khai thác sá sùng. Từ người nghèo nhất cũng chỉ cần sắm một chiếc mai chuyên dụng, một chiếc giỏ xách tay là có thể ra bãi kiếm tiền được rồi! Còn người giàu hơn thì bỏ vốn thu mua sá sùng phục vụ khách du lịch. Hiện nay hàng ngày trên bãi sá sùng Quan Lạn, người đi khai thác loài hải sản này rất đông, khoảng trên dưới 500 người. Nhưng thu nhập từ công việc của họ cũng không giống nhau, có người có thể kiếm được khoảng 500 nghìn đồng/ngày, người trung bình thì khoảng hơn 100 nghìn đồng/ngày, nhưng cũng có người chịu xách giỏ về không! Vì đào sá sùng trông đơn giản vậy nhưng cũng phải biết ''mánh''; đó là làm sao nhận biết nhanh những lỗ nhỏ mà sá sùng phun lên mặt đất để thở. Người đào sá sùng nếu không biết mánh thì dù đào cả ngày cũng bằng không. Người ta bảo, đào sá sùng cũng gần giống như một nghề gia truyền, mỗi nhà có một ''bí quyết" riêng. Dân đào sá sùng ở Quan Lạn ai cũng biết anh Nguyễn Văn Toàn, giờ đang lãnh đạo Chi hội nông dân xã. Trước đây cả hai vợ chồng anh Toàn đều đi đào sá sùng. Hàng ngày nhìn cô vợ mình mang nước da trắng bóc đi đổi lấy nước da sạm nắng vì đào sá sùng, Toàn thấy thương vợ và cũng vác mai ra bãi để đỡ đần vợ. Thế nhưng những ngày phơi nắng trên bãi không giúp anh trở thành người đào sá sùng chuyên nghiệp mà lại cho anh ý tưởng mở điểm thu mua, và sấy sá sùng... Bây giờ thì từ nghề này, vợ chồng anh đã xây được nhà nghỉ để kinh doanh dịch vụ du lịch. Và cũng như ông Tý ở Minh Châu, dẫu cuộc sống đã có của ăn của để, nhưng hàng ngày vợ chồng anh vẫn gắn bó với sá sùng. Anh bảo không riêng gia đình anh mà nguồn lợi sá sùng đã cải thiện kinh tế cho rất đông bà con dân đảo. Hiện ở xã có 2 thôn nghèo nhất là Tân Lập và Hải Yến, thì nguyên nhân chính vẫn là do 2 thôn này không có nghề đào sá sùng...
Nhưng cũng theo bà con ở hai xã Minh Châu, Quan Lạn cho biết thì nguồn lợi sá sùng ở đây đang có nguy cơ suy kiệt, lượng sá sùng đào được ít hơn nhiều so với trước đây. Làm thế nào để bảo tồn và phát triển nguồn lợi này khi việc nuôi sá sùng vẫn chỉ là ý tưởng chưa thành hiện thực? - Đây là vấn đề đang làm ''đau đầu'' những người lãnh đạo địa phương. Hiện tại, cả hai xã đều đã đề ra phương án tuyên truyền cho người dân khai thác theo mùa, tránh khai thác vào tháng 2 và tháng 8 là mùa sá sùng đẻ trứng. Thế nhưng, việc đó không dễ vì với nhiều người dân, nguồn thu nhập từ khai thác sá sùng quá hấp dẫn so với làm nông nghiệp. Thậm chí, như ở Minh Châu hiện tại có khoảng 60% đất canh tác bị bỏ hoang, vì thu nhập từ trồng lúa rất thấp do bị ngập mặn, hệ thống tưới tiêu lại kém. Còn Quan Lạn tuy đã phát triển khá mạnh hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch, nhưng cũng chỉ có một số ít người tham gia vì nghề này đòi hỏi phải có nhiều vốn. Và phần đông người dân vẫn ''bám biển'' để khai thác sá sùng!
Ngoài ra, một nguyên nhân nữa khiến nguồn sá sùng cạn kiệt là do tình trạng xiếc điện bắt tôm trên bãi sá sùng. Một thợ đào sá sùng lâu năm ở Quan Lạn phàn nàn với chúng tôi: “Hôm nào bọn xiếc điện làm ăn trên bãi sá sùng thì hôm sau những người như chúng tôi chỉ còn nước vác mai về không, vì sá sùng nếu không chết vì bị điện giật thì cũng lẩn mất tăm dưới đất sâu...”. Hỏi vì sao “bọn này” không bị chính quyền xã ''xử lý'', dân đào sá sùng ngán ngẩm bảo công an xã gần như bất lực, bởi lực lượng mỏng, lượng xăng dầu cấp phát để tuần tra lại chỉ có hạn, trong khi bãi triều thì rộng...
Nói cách khác, việc bảo tồn nguồn lợi sá sùng ở Minh Châu, Quan Lạn quả thực đã vượt quá khả năng của xã. Đây là điều rất cần có sự quan tâm chỉ đạo của các cấp, các ngành cao hơn để nguồn tài nguyên này không bị suy kiệt.