Cửa Vạn... xanh

Làng chài Cửa Vạn (phường Hùng Thắng, TP Hạ Long) không lâu trước là một “vùng tối”: Thất học, nghèo đói, ô nhiễm môi trường…, nhưng giờ đây, đã “thay da, đổi thịt” đến khó ngờ. Biển đã xanh hơn, người dân vạn chài không còn “bế quan, tỏa cảng”, biết giao thương, bởi thế cuộc sống bớt khó khăn, nhiều nhà còn có của ăn, của để.

Tám giờ, chiếc xuống máy của Ban quản lý (BQL) Vịnh Hạ Long đưa chúng tôi ra vịnh. Thời tiết khá thuận lợi, biển lặng. Cái se lạnh đầu đông, man mác của gió khiến chúng tôi cùng hòa vào vị mặn mòi của biển.


Anh Nguyễn Mạnh Tuấn – nguyên Phó BQL vịnh (nay là Phó Chủ tịch huyện Hoành Bồ) - cho chúng tôi biết, những ngày biển động, sóng chồi vào sóng, sóng xô vào tàu, gió giật dữ dội, muốn ra tới làng chài Cửa Vạn phải đi bằng những chiếc tàu lớn, có khả năng chịu được những con sóng khổng lồ.

Chừng 1 giờ đồng hồ lênh đênh, sau khi ghé qua hang Trống - một hòn đảo mới được phát hiện, khác với vẻ bề ngoài gồ ghề, xù xì, nhưng bên trong lại là một không gian bằng phẳng, mênh mông có sức chứa tới cả ngàn người, BQL vịnh đang xúc tiến đưa vào khai thác du lịch...; chúng tôi tới Cửa Vạn, nằm trong vịnh Tùng Sâu, cách TP. Hạ Long 17 km. Đây là 1 trong 7 làng chài lớn nhất nằm trên vịnh Hạ Long với diện tích 122 ha. Khuất mình trong muôn vàn núi và sóng, làng chài như một thế giới riêng. Chẳng biết từ bao giờ, dân vạn chài đã bám vào vùng vịnh này, đã có những gia đình 5 đời ở đây, chủ yếu là người Giang Võng và Trúc Võng. Đến năm 1963, tên làng vạn chài Cửa Vạn được ra đời, quần tụ các hộ gia đình thủy cư xung quanh thành. Lúc đó, vạn chài chỉ có khoảng 50 hộ với khoảng 200 nhân khẩu, cuộc sống cứ thế sinh sôi nảy nở, đến nay, làng đã có tới hơn 500 nhân khẩu với hơn 100 hộ sinh sống.

Xuồng máy đưa chúng tôi tới tham quan Trung tâm văn hoá nổi Cửa Vạn, được xây dựng năm 2006, do nguồn vốn Chính phủ Na Uy tài trợ, diện tích hơn 420 m2. Đây là trung tâm văn hoá của cả làng, thực hiện chức năng bảo tồn, phát triển các giá trị văn hóa đương đại, truyền thống cũng như văn hóa đời thường, giáo dục, hướng dẫn bà con vạn chài bảo tồn giá trị văn hóa, phát triển kinh tế và du lịch, cũng là giúp khách du lịch hiểu biết về lịch sử làng chài. Nhân viên của trung tâm phần lớn là con em của làng chài được trưng dụng và một vài cán bộ ở thành phố, đã tốt nghiệp Đại học Văn hóa, có tình yêu biển vô bờ bến. Khách du lịch đến làng chài đều được người dân ở đây hướng dẫn bởi hơn ai hết, họ hiểu sâu sắc hơn về bản sắc cũng như nét văn hóa của họ. Đám tuổi “teen” ở làng đều được học hát giao duyên và cuộc thi hát giữa các làng chài trên biển với nhau là một hoạt động văn hóa tiêu biểu của người dân nơi đây, đáng được trân trọng, gìn giữ và phát huy.

Cửa Vạn... xanh ảnh 1

Nghề nuôi cá lồng bè đã giúp dân làng chài đổi đời

Cửa Vạn như một bức tranh tĩnh, các phương tiện đi lại ở đây hầu hết là mủng và xuồng nhỏ. Một vùng non nước xanh biếc, phẳng lặng. Một chiếc tàu lớn chở rất nhiều rác chầm chậm chạy xung quanh làng chài. Anh Hà, người đi cùng đoàn cho chúng tôi biết, hàng ngày, chiếc tàu này đi quanh khu vực làng chài thu gom toàn bộ rác thải, đưa vào đất liền tiêu hủy. Trước đây, người dân chưa ý thức việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường, rác thải sinh hoạt xả trực tiếp xuống vịnh. Không để một vùng vịnh “chết”, hàng ngày, cán bộ của trung tâm ra làng chài tuyên truyền, trò chuyện với từng hộ gia đình, giúp họ hiểu tác hại của việc xả rác ra biển. Lúc đầu rất khó khăn, vận động được người lớn thì trẻ nhỏ lại thiếu ý thức. Trung tâm mua cho mỗi hộ gia đình một thùng rác rồi vận động các hộ bỏ rác vào. “Giờ thì người dân ý thức với môi trường lắm rồi. Không còn xả rác bừa bãi, khách du lịch đến thăm làng chài cũng dần tăng lên, không chỉ bởi cảnh đẹp mà còn được ngao du trong một thế giới trong lành, bình yên” - anh Hà chia sẻ.

Không chỉ có câu chuyện môi trường, trước đây dân chài còn dùng mìn để đánh cá, vì thế mà cá lớn cá bé chết hàng loạt, nguồn nước cũng bị ô nhiễm nặng bởi các tạp chất. Các anh ở trung tâm ra các hộ dân vận động từng gia đình, hỏi họ: - Sau này con cái các anh làm nghề gì? - Theo nghiệp ông cha thôi, làm nghề đánh cá trên biển, biển là nghiệp rồi, còn nghề nào nữa đâu. - Nhưng nếu các anh cứ dùng mìn và các chất nổ để đánh bắt cá thì sau này con cái lấy đâu ra cá để đánh bắt nữa.

Cứ thế, bằng nhiều cách tuyên truyền, dân họ cũng hiểu và ý thức hơn.

Chúng tôi đến Cửa Vạn vào ngày cuối tuần, nhưng xóm chài vắng lặng, người trong làng hầu hết đã đi biển. Tiếp chuyện chúng tôi là ông Nguyễn Văn Cho, năm nay đã ngoài 70 tuổi, là Trưởng ban Mặt trận khu Cửa Vạn - người được coi là “già làng” ở đây. Ông khoe, làng chài bây giờ khá giả hơn nhiều, đã có của ăn của để, dân đã biết kinh doanh, buôn bán. Ông nhẩn nha kể cho chúng tôi nghe những câu chuyện về làng chài, trước đây, phương thức đánh bắt của ngư dân làng chài bằng các lờ cá, phao đèn, bằng một chút mồi cá vụn. Cuộc sống khốn khó, theo đuôi con cá, con cá đi tới đâu, thuyền của người vạn chài đi tới đó. Vài năm trở lại đây, bà con đã biết nuôi cá lồng bè để phát triển kinh tế với những loại cá mang lại hiệu quả kinh tế cao như: cá song, cá trình… Hàng ngày có thuyền buôn trong đất liền ra thu mua các loại, cũng có gia đình mang vào chợ thành phố bán. Thu nhập bình quân đầu người cũng trên 1 triệu đồng/tháng. Có gia đình nuôi giỏi, một năm cũng lãi vài chục triệu đồng. Chúng tôi mua một con cá song 3 kg của gia đình ông Cho và hỏi: - Bao nhiêu tiền một ký lô? - Hai trăm ngàn đồng, không chặt chém gì đâu, lấy đúng giá địa phương, chứ mang vào nhà hàng trong đất liền là ba trăm ngàn đồng đấy - con trai ông Cho “tiếp thị”.

Cân cá cho chúng tôi xong, anh con trai tất bật đi tắm cá. Những con cá oằn nặng quẫy đạp khoan khoái. Được biết, tắm cá để có được nguồn thịt sạch và nguồn nước nuôi cũng phải sạch sẽ, như vậy cá mới khỏe và nhanh lớn, bán cũng được giá hơn.

Cửa Vạn... xanh ảnh 2

Ông Nguyễn Văn Cho (phải) - "già làng" của Làng chài Cửa Vạn.

Nhìn vào những ngôi nhà trên biển mới thấy, cuộc sống người dân làng chài đã đổi thay hơn nhiều, không còn cảnh thuyền lán như trước, tất cả đã được thay bằng những ngôi nhà bè chắc chắn. Tuy nước ngọt ở đây rất thiếu, phải mua tới hai trăm ngàn đồng/thùng 12 lít, mùa hè chỉ dùng được trong 2 ngày và tiết kiệm triệt để nhưng bù lại, cả làng đã bắt đầu biết đến bếp gas thay cho bếp than và nhận thức của họ về dân số cũng thay đổi, mỗi gia đình nếp sống mới chỉ sinh 2 con. Cuộc sống thủy cư, trẻ con sinh ra biết bơi trước khi biết chữ. Trước đây chẳng ai biết con chữ, cái bút là gì, cũng chẳng ai quan tâm. Quanh năm bám vào biển cũng vì thế mà cả làng mù chữ. Tình trạng thất học cứ bám riết lấy làng vạn chài. Đến năm 2000, lãnh đạo phường Hùng Thắng bắt đầu dựng 2 phòng học trên biển, giáo viên chính quy được đưa ra làng chài dạy học. Mỗi lớp học có khoảng 20 học sinh, tuy nhiên cũng mới chỉ dừng lại ở cấp tiểu học. Ban đầu, các em cũng ngại đi học, cầm bút tập viết còn thấy nặng hơn cả cầm lưới, quăng chài. Rồi, lại phải vận động, thêm nữa, nhiều tổ chức từ thiện hỗ trợ giấy, bút và đồ dùng học tập.

Đến nay, hầu hết, trẻ em ở làng chài đã được cắp sách tới trường, nhưng để lên trung học cơ sở, các em phải vào đất liền để học và không phải nhà nào cũng có điều kiện này. Chính vì vậy, trình độ dân trí cho các em cũng mới dừng ở mức độ phổ cập xóa mù chữ. - Liệu dân ở đây có được phân đất ở đất liền không? - Ông Cho bỗng hỏi chúng tôi. - Gắn bó với biển bao đời nay, sao bỗng dưng bác lại muốn rời biển? - Cũng muốn an cư để con cháu còn học hành, chứ chúng thất học tội lắm! Hiện nay, ở đây cũng chưa có trạm y tế, lúc ốm khi đau chủ yếu là tự chữa, bệnh nặng đành bó tay. Nói là nói thế thôi, sinh ra trên thuyền bè, lớn lên trên sóng nước, chúng tôi gắn bó trên biển bao đời nay rồi dễ gì mà bỏ biển. Chỉ mong sao Nhà nước trang bị cho làng một chiếc thuyền công cộng để hàng ngày đưa dân vào đất liền, cũng để đưa các cháu vào đó theo học và một chiếc xuồng cấp cứu để có thể đưa người ốm đi bệnh viện tức thời… Chia tay gia đình ông Cho, chia tay làng vạn chài Cửa Vạn vào lúc xế chiều, tôi nhận thấy một điều, cuộc sống dù đã đổi thay rất nhiều, làng vạn chài đã và đang vươn mình để một ngày không xa trở thành làng du lịch, phát huy những nét văn hóa truyền thống độc đáo mang đậm sắc thái biển; nhưng bộn bề khó khăn vẫn còn đó…

Và cô bé Nguyễn Thị Hợi, 15 tuổi, một “hạt nhân” văn nghệ của làng chài đã chào tạm biệt chúng tôi bằng lời hát mộc mạc, đằm thắm, như kéo lòng người về với trời biển, về với nhau:

“Thoạt vào em chào năm xuân

Chào các quý khách xa gần ngồi chơi

Ngả nghiêng bên nói bên cười…”.

Cùng chuyên mục