Cuộc sống mới nơi biên cương

Vốn là những vùng rừng núi hoang vu, rậm rạp nơi vành đai biên giới không người qua lại, vậy mà chỉ sau gần chục năm có mặt, CBCS Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 327,  đã biến nơi đây thành những đầm nuôi tôm công nghiệp, trang trại chăn nuôi bò quy mô tương đối lớn, tạo việc làm cho hàng trăm hộ dân nơi biên giới. Những làng bản mới xây dựng trên toàn tuyến đã và đang là những “pháo đài’’ quan trọng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trước mọi tình huống.

“Đồi ma” ngày ấy, bây giờ

p

Thiếu tá Vũ Văn Nếm đang “điểm danh” đàn bò trước khi vào chuồng.

Khi biết chúng tôi có ý định đến thăm một số xã, làng biên giới, Đại tá Từ Ngọc Thạch, Đoàn trưởng Đoàn KT-QP 327 phấn khởi cho biết: “Các bạn nên đi ngay, bây giờ ở khu vực đơn vị chúng tôi phụ trách cuộc sống của nhân dân thay đổi nhiều lắm, nhất là ở các xã Hải Hoà, Hải Sơn, Bắc Sơn của TX Móng Cái”. Theo mộtđồng chí cán bộ của Đồn BP số 5, chúng tôi đếnĐoàn 27 đúng lúc cả đơn vị đang có mặt ở ngoài đầm để thu hoạch tôm. Chỉ vào một người đang mải miết kéo lưới dưới đầm, quần sắn móng lợn, áo lem luốc bùn đất, Thiếu tá Nguyễn Thanh Hải, Chính trị viên phó Đồn BP số 5 nói nhỏ: ‘’Người đang kéo lưới kia là Thượng tá Nguyễn Đức Quý, Giám đốc Đoàn 27,một trong những người có mặt đầu tiên ở khu vực này,khi đó toànlàsú vẹt...’’. Thấy có khách, Thượng tá Quý vội bỏ công việc, dẫn chúng tôi đi thăm một loạt các công trình mà đơn vị đã triển khai. Và qua lời kể của anh, chúng tôihiểu rằng để có được những đầm tôm, những ruộng lúa và những ngôi nhà khang trang cho nông dân như hiện nay,các anh đã phải trải qua những tháng ngày gian nan, vất vả như thế nào để biến ‘’đồi ma’’ xưa trở nên trù phú như hôm nay. Đoàn 27 được thành lập từ năm 1998 làm nhiệm vụ kinh tế - quốc phòng trên địa bàn bãi Lục Lầm. Trước năm 1979, Lục Lầm vốn là một xã của TX Móng Cái,tổng diện tích 838ha, có 72 hộ dân với 370 nhân khẩu sinh sống, sau nhiều sự kiện, người dân bỏ đó, dần trở thành vùng hoang sơ. Người dân quanh khu vực đặt cho Lục Lầm cái tên ‘’đồi ma’’ với nhiều chuyện ly kỳ nhuốm màu sắc huyền bí. Thực ra, trước khi đến đây, chúng tôi cũng đã được tìm hiểu một chút về “đồi ma”. Đó là một quả đồi nhỏ, xung quanh là hàng trăm ha đất bãi triều bị bỏ hoang, lau sậy mọc um tùm. Để lên được “đồi ma”, chỉ có duy nhấtcon đường độc đạo. Cái tên‘’đồi ma’’ cũng có nhiều cách hiểu, lý giải khác nhau. Ngườicho rằng, sau những năm 80 của thế kỷ trước, nơi đây còn sót lại nhiều bom mìn, thỉnh thoảng một vài con trâu, con bò bị lạc lối vướng phải bom mìn nổ, thấy xác nằm đó mà không ai dám vào lấy, đành để diều tha, quạ mổ, xao xác cả một vùng. Những đêm tối trời, mưa phùn, ánh lửa lân tinh từ xác động vật còn rơi rớt lại lập loè như ma chơi khiến nhiều người khiếp sợ không dám đến gần, làm cho khu đồi đã hoang vắng lại càng trở nên u tịch. Một số người khác thì cho rằng trước đây, thỉnh thoảng có xác của người đi biển chết theo con nướctrôi dạt vào chân đồi v.v... Thế nhưng tất cả những chuyện đó chỉ còn nằm trong ký ức của một số người, kể từ khi CBCS của Đoàn KT-QP 27 kéo quân về đây. ‘’Đồi ma bây giờ đã trở thành đồi hạnh phúc rồi các bạn ạ!’’ - Thượng tá Quý nói với chúng tôi. Anh kể, khi đơn vị mới về đây, tất cả đều ‘’4 không’’ (không nước ngọt, không điện, không nhà, không đường sá’’, cả đơn vị phải sống trong cảnh tạm bợ. Với quyết tâm khơi dậy cuộc sống mới nơi đây được sự quan tâm của cấp trên và cấp uỷ, chính quyền địa phương, đơn vị nghiên cứu để trồng cây, khoan giếng, đào ao thả cá, kéo điện lưới phát triển tăng gia sản xuất. Khi đã có thể ổn định được cuộc sống, đơn vị chỉ đạo mọi CBCS về quê vận động gia đình tình nguyện di dãn dân ra đây để lập nghiệp trên quê hương mới. Đưa dân ra đã khó, đảm bảo cuộc sống cho họ lạikhógấp bội phần. Đơn vị đã xây dựng và thực hiện nhiều phương án sản xuất với nhiều ngành, nghề khác nhau, từ trồngtrọt, chăn nuôi đến dịch vụ, bốc vác... Đặc biệt là do điều kiện thiên nhiên khu vực bãi triều ven biển rất thuận lợi cho việc nuôi trồng thuỷ sản,đơn vị đã khoanh nuôi thử nghiệm 12,2 ha đầm để nuôi tôm hoa và tôm sú. Từ thành công đó, Đoàn tiếp tục mở rộng đầu tưtrên 10 tỷ đồng để khoanh nuôi thêm trên 200ha nữa. Thượng tá Quý cho biết: ‘’Để tránh sự rủi ro cho nông dân thì việc quan trọng nhất làphải đầu tư một cách có trọng điểm, tránh dàn trải, đầu tư đến đâu chắc chắn tới đó rồi mới bàn giao cho dân. Đến thời điểm này, sản lượng tôm công nghiệp của chúng tôi đã đạt từ 5-7tấn/ha/năm, vụ tôm năm nay, toàn vùng dự án sẽ cho thu hoạch từ 210-230 tấn tôm các loại. Đó là chưa kể hàng chục ha cua, cá và sò cũng có thể cho thu hoạch hàng tấn các loại. Đến nay, nghề nuôi trồng thuỷ sản trong vùng dự án đã được khẳng định, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho hàng trăm lao động”.Tham quan các ao đầm nuôi thuỷ sản, CBCS ở đây cho biết, khu vực nào chưa có điều kiện nuôi công nghiệp thì đưa vào nuôi quảng canh cải tiến, đảm bảo sự phát triển bền vững tránh được sự rủi ro. Đơn vịthường xuyên chú trọng đến bảo vệ và giữ tốt môi trường sinh thái tự nhiên.

Lên thăm ‘’đồi ma”, thấy từng dãy nhà xây san sát, nghe tiếng nô đùa của trẻ thơ. 8 năm qua, dưới bàn tay của CBCS Đoàn 27 KT-QP, nơi đây đã trở thành một ngôi làng trù phú với 275 hộ dân từ miền xuôi đến đây lập nghiệp. Vùng dự án KT-QP nhà nối sát nhà bám biên giới.

Chuyện của những người lính chăn bò ở Bắc Sơn

p
 Thu hoạch tôm ở Đoàn KT - QP 27
Đó là cách gọi của những người lính làm nhiệm vụ triển khai mô hình chăn nuôi trâu, bò của Đoàn KT-QP 42 đứng chân trên địa bàn 2 xã Bắc Sơn và Hải Sơn (TX Móng Cái) nói về công việc của mình như vậy. Từ trụ sở của Đoàn, chúng tôi đi đến thăm Đội chăn nuôi số 4. Lúc này trời đã xẩm tối, mỗi lúc một rét, vậy mà toàn Đội vẫn đang trên đồi để tìm bò, tìm trâu. Vào đến cổng đơn vị, tôi gặp một ngườitừ trên đồi tụt xuống, vừa đivừa lẩm bẩm. Đó là Thiếu tá Vũ Văn Nếm, Đội trưởng Đội chăn nuôi số 4. Hồi chiều, lúc“điểm danh” đàn bò thấy thiếu mất con Laisin đực, thế là cả đội phải túa đi tìm nhưng đến tối vẫn chưa thấy. Đếnkhi đàn bò đã về chuồng đủ, thì cả Đội mớivề lo chuẩn bị bữa cơm tối cho mình. Cách đây gần chục năm, khi đơn vị về làm nhiệm vụ thì khu vực này rậm rạp um tùm, đường sá đi lại khó khăn, cơ sở hạ tầng phục vụ dân sinh hầu như chưa có. Dân cưsinh sống thưa thớt, rải rác, cuộc sống quanh năm thiếu thốn, nghèo khó. Nhận thấy rằng đồng cỏ nơi đây tương đối thuận lợi cho việc chăn thả đại gia súc, nếu như tạo điều kiện cho nhân dân có vốn và giống thì chắc chắn sẽ giúp được nhân dânthoát khỏi đói nghèo. Đội chăn nuôi trâu bò ra đời từ hoàn cảnh như vậy. Từ năm 1999 đến nay, với vài con bò giống, Đội đã nhân ra được gần 200 con các loại trong đó hỗ trợ cho dân 50 con và cho dân mượn 55 con để lấy giống. Ban đầugặp rất nhiều khó khăn, bởinhững người lính nào có quen việc nuôi bò. Mỗi khi có con bò nào bị bệnh là cả Đội quên ăn, quên ngủ lo tìm cách cứu chữa cho bò. Có chuyện một sĩ quan trẻ mới chuyển gia đình lên sinh sống gần đơn vị, do ngã nước,đứa con 7 tuổi của anh ốm quặt quẹo, luôn miệng khóc đòi theo bố, thế nhưng do một con bò của Đội đêm ấy trở dạ đẻ, nhưng nhau thai không ra, nếu để muộn thì sẽ chết cả mẹ lẫn con, vì vậy anh đành phải để con ở nhàcùng đồng đội tìm cách cứu bò... Năm 2004, bệnh lở mồm, long móng xuất hiện ở Lục Phủ (Bắc Sơn), cách đơn vị gần chục cây số. Khi hay hung tin ấy, cả Đội bỏ ăn, bỏ ngủ cùng nhau bàn biện pháp khoanh vùng, dập dịch, nhờ đó đãđảm bảo an toàn cho đàn bò của đơn vị. Thiếu tá Nếm vẫn còn rùng mình khi nhớ lại chuyện này: ‘’Hú hồn các bạn ạ? Lần ấy nếu không dập được dịch thì bao công sức của đơn vị sẽ đổ xuống sông, xuống biển hết. Sau đận ấy, mỗi lần xem ti vi thấy nói có bệnh này xuất hiện ở đâu đó, chúng tôi lại lo cuống lên’’.

Lời kết

Ngày nay nếu đi dọc tuyến vành đai biên giới, nơi Đoàn KT-QP 327 phụ trách,thấycuộc sống mới đang từng ngày khởi sắc, đường sá đi lại thuận lợi, trường học, trạm y tá quân dân y kết hợp được xây dựng ngày càng khang trang. Một cuộc sống no ấm đã đến với đồng bào nơi địa đầu biên giới này. Họ đang trở thành lực lượng chính, góp phần bảo vệvững chắc đường biên, mốc giới thiêng liêng của Tổ quốc.

Cùng chuyên mục