Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ninh tham gia thảo luận ở Hội trường về dự thảo Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (sửa đổi)

Ngày 25/3, Quốc hội nghe Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý và thảo luận ở Hội trường về Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (sửa đổi). Tham gia phát biểu thảo luận, Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ninh có đại biểu Trần Văn Minh, Phó trưởng ban Dân nguyện của UBTVQH.

Đại biểu Trần Văn Minh phát biểu tại Hội trường.
Đại biểu Trần Văn Minh phát biểu tại Hội trường.

Đại biểu cơ bản đồng tình với bản giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự án Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (sửa đổi) và trao đổi thêm 3 nội dung để Quốc hội xem xét, hoàn chỉnh trước khi thông qua, ban hành Luật.
Về đối tượng chịu thuế (Điều 2), đề nghị xem xét Luật hóa đối tượng chịu thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ và trường hợp hàng hóa của doanh nghiệp chế xuất thực hiện quyền nhập khẩu, quyền phân phối. Bởi lẽ, sau khi nghiên cứu nội dung giải trình thấy:  Điều 182 qui định “Quyền và nghĩa vụ của bên gia công” – đây mới chỉ là một đối tượng của hình thức xuất, nhập khẩu tại chỗ, không bao quát hết được hình thức này; nếu các nội dung chi tiết về mặt kỹ thuật được thể hiện ở Điều 53, 61, 77, 86 của Thông tư số 38/2015/TT-BTC vẫn là phù hợp thì hoàn toàn nên bổ sung nội dung này về mặt nguyên tắc vào Luật; cũng liên quan đến nội dung này và với lý do tương tự, đại biểu đề nghị xem xét lại thêm phần giải trình ở Mục 4 của Văn bản giải trình, tiếp thu và chỉnh lý dự án Luật.

Về căn cứ tính thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với hàng hóa áp dụng thuế suất theo tỷ lệ phần trăm (Điều 5), Khoản 1 qui định “Số tiền thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được xác định bằng trị giá tính thuế và thuế suất theo tỷ lệ phần trăm (%) của từng mặt hàng tại thời điểm tính thuế”. Đại biểu cho rằng, nếu đã qui định cách tính thì nên qui định cụ thể, rõ ràng, chính xác hơn, qua đó đề nghị sửa lại thành “Số tiền thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được xác định bằng trị giá tính thuế nhân với lượng hàng thực tế xuất khẩu, nhập khẩu và thuế suất theo tỷ lệ phần trăm (%) của từng mặt hàng tại thời điểm tính thuế”.

Về trị giá tính thuế, thời điểm tính thuế (Điều 8), Khoản 1 qui định:

“1. Trị giá tính thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là trị giá hải quan được xác định như sau:

a) Đối với hàng hóa xuất khẩu là giá bán của hàng hóa tính đến cửa khẩu xuất, không bao gồm phí bảo hiểm và phí vận tải quốc tế;

b) Đối với hàng hóa nhập khẩu là giá thực tế phải trả tính đến cửa khẩu nhập đầu tiên, phù hợp với pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”.

Đại biểu nêu, thực chất 2 Mục a, b nêu trên là nhắc lại Khoản 2, Khoản 3 Điều 86 Luật Hải quan năm 2014. Do vậy, đề nghị sửa lại thành “Trị giá tính thuế xuất khẩu, nhập khẩu là trị giá hải quan theo quy định của Luật hải quan” và bỏ Mục a, b trong dự thảo để tránh qui định trùng lặp với Luật chuyên ngành (Tức là chỉ cần qui định dẫn chiếu Luật Hải quan như đề nghị ở trên).

Ngô Sỹ Khảo (VP Đoàn ĐBQH& HĐND tỉnh)

Cùng chuyên mục