Lần này trở lại thăm bà con bản Trình Tường (xã Đồng Tâm, huyện Bình Liêu), chúng tôi thực sự ngỡ ngàng khi thấy cuộc sống nơi đây đã thay đổi rất nhiều.
Đồng chí cán bộ Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 156 (Đoàn 327, Quân khu Ba) người cùng chúng tôi lên Trình Tường, luôn miệng nói: “Cuộc sống của bà con giờ khác xưa lắm! Hầu như nhà nào cũng mua được ti vi, xe máy và điều phấn khởi hơn là trẻ em không còn sợ thất học nữa; mới đây, tỉnh đã đầu tư trên 400 triệu đồng để xây dựng trường học, đơn vị tôi cũng đã tuyển giáo viên vào ở hẳn trong bản để dạy cho các em”...
Người dân Trình Tường đã được dùng nước sạch sinh hoạt.
Vừa vào đến bản, chúng tôi đã gặp vợ chồng anh Gioòng Trống Quay, trưởng bản Trình Tường, đang hì hục đào đất, tôn nền phía sườn đồi. Thấy bộ đội dẫn người lạ đến, anh nhanh nhẩu nói: “Trước đây, trâu bò cứ thả rông trên đồi. Bây giờ trên đó trồng nhiều cây lâm nghiệp rồi, nếu cứ như vậy nó sẽ quần nát hết cây cối. Vì thế mình bàn với vợ xây cái chuồng trâu để vừa tiện quản lý, vừa lấy phân làm ruộng”. Nói rồi anh giục vợ rửa tay, vào nhà pha trà mời khách. Căn nhà của anh chị tuy nhỏ, nhưng gọn gàng, ngăn nắp. Chiếc xe máy dựng phía cuối buồng, còn trên bàn đặt chiếc ti vi còn rất mới. Gioòng Trống Quay khoe: “- Trước đây, do đường lên bản khó khăn nên cứ mỗi lần có việc gì ở xã là phải dậy đi bộ từ sáng sớm, tới gần trưa mới tới nơi. Mấy năm vừa rồi, bộ đội về mở đường vào tận bản, mình liền bàn với vợ tiết kiệm tiền để mua chiếc xe máy. Còn cái ti vi này, vì thấy mấy nhà hàng xóm có, lũ trẻ cứ phải đi xem nhờ đêm hôm lọ mọ, mình cũng quyết tâm có bằng được”... Mặc dù những tài sản đó nếu so với một số hộ miền xuôi thì không phải là lớn, nhưng với bà con ở đây, thế là khá rồi: Cứ trông nét mặt rạng ngời của Gioòng Trống Quay là biết!
Qua câu chuyện với trưởng bản, chúng tôi hiểu, để có được cuộc sống mới như ngày hôm nay với bà con Trình Tường thật không dễ dàng gì. Đây vốn là khu vực rừng núi hoang vu, đèo heo hút gió, toàn sim mua, dứa dại, hoạ hoằn lắm mới có bóng người qua lại. Trong khi đó, khí hậu lại khắc nghiệt có khi trời đang nắng hầm hập bỗng đổ mưa tầm tã. Chính vì vậy, trước đây đã có một vài hộ đến sinh sống, nhưng không chịu được đành bỏ đi nơi khác, khiến nơi đây vốn hoang vu lại càng thêm u tịch. Tất cả chỉ bắt đầu từ cuối năm 2000, khi Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 156 về đứng chân nơi đây. Sau thời gian dày công cử cán bộ băng rừng, vượt suối để điều tra, khảo sát, CBCS của Đoàn nhận thấy, mặc dù điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng ở đây rất khó khăn, nhưng không phải là không phát triển được. Với quyết tâm “Biến đồi hoang thành đồng ruộng, tạo cuộc sống nảy mầm trên vùng đất chết”, các anh đã không quản nắng mưa bạt núi, san đường, xây đập tích nước, cải tạo ruộng hoang, để xây dựng nhà ở, sau đó vận động một số hộ đồng bào đang sinh sống khó khăn trên các triền núi cao xuống định cư. Nhắc đến chuyện cũ, mắt Gioòng Trống Quay chợt xa xăm, giọng anh chùng xuống: “- Nghĩ đến cuộc sống hiện tại, lắm lúc mình cứ ngỡ như mơ. Bởi ngày ấy, gia đình mình đang ở trên khu vực bản Nà Sa, cách đây vài giờ đi bộ. Đời sống khó khăn lắm. Quanh năm, suốt tháng phải lên đồi tìm cây thuốc chờ đến phiên chợ thì mang xuống bán, mua ít gạo và ít cá khô. Lam lũ là vậy mà lắm lúc cháo cũng không đủ ăn. Nhà cửa thì tạm bợ, dột nát, đêm nằm trên giường có thể nhìn thấy sao qua mái nhà. Thú thực, khi bộ đội đến vận động, ban đầu mình không tin lắm, nhưng nghe nói mãi mình cũng theo. Thế là 1 hộ, 2 hộ, rồi nhiều hộ lần lượt chuyển xuống Trình Tường. Đến bây giờ đã có 9 hộ với 36 nhân khẩu định cư ổn định trong bản, nhà nào nhà ấy đều đủ ăn cả”. Trong tâm thức của bà con Trình Tường, hình ảnh anh bộ đội Đoàn Kinh tế - Quốc phòng thật đẹp. Ngay những ngày đầu, khi đưa bà con về bản, ngày nào các anh cũng đến “4 cùngvới đồng bào”. Người thì dạy học, người thì giúp dân làm chuồng trâu, chuồng lợn, đào ao thả cá. Không chỉ có thế, các anh còn lặn lội đi mua những giống cây vừa cho năng suất cao, vừa hợp với thổ nhưỡng và khí hậu của vùng núi vốn khắc nghiệt này về trực tiếp trồng thí nghiệm, khi thấy có kết quả mới hướng dẫn cho bà con làm theo. “Người có công, đất chẳng phụ”, đến nay, toàn bản đã có gần chục ha đất nông nghiệp, canh tác được một vụ lúa và một vụ màu, nhà nào cũng có vài con trâu. Mới đây, lãnh đạo Đoàn còn tham mưu cho địa phương giao hơn 20ha rừng thông cho các hộ quản lý và chăm sóc, nguồn kinh phí bảo đảm do đơn vị chi trả. Như gia đình anh Quay có 2 sào ruộng, 3 ha rừng, mỗi năm cũng cho thu hoạch gần 4 tạ thóc, giải quyết được lương thực gần nửa năm và thu nhập trên 2 triệu đồng từ chăm sóc rừng. Ngoài ra, những lúc nông nhàn, anh chị lại cùng một số thanh niên trong bản vào trồng rừng thuê cho Đoàn với thu nhập bình quân 40 ngàn đồng/người/ngày. Vì thế, cuộc sống ổn định dần...
Lo xong phần đời sống kinh tế cho bà con, Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 156 bắt đầu tính đến phát triển đời sống tinh thần, mà trước mắt là đầu tư kéo điện lưới, xây dựng trường học. Sau một thời gian thi công, giữa năm 2006, điện lưới đã về đến tận bản. Ngày đóng điện thành “sự kiện” đáng nhớ trong đời của nhân dân Trình Tường. Hôm ấy, cả bản vui như hội, người thì góp gạo, nhà thì góp gà cùng với bộ đội làm bữa liên hoan thịnh soạn mừng cái giây phút chấm dứt hẳn cảnh đèn dầu tăm tối. Không những thế, đơn vị còn ứng tiền giúp bà con mua công tơ, dây điện v.v... rồi cử cán bộ đến lắp cho từng hộ. Tiếp đó, đơn vị lại bỏ hàng chục ngày công làm trường học cho nhân dân. Ban đầu chỉ là một dãy nhà tre, lợp Fibrô xi măng; đầu năm 2007, tỉnh đã quyết định đầu tư trên 400 triệu đồng để Đoàn xây dựng trường mới với 3 phòng học, một phòng làm việc và công trình vệ sinh khép kín. Gặp lại thầy giáo Phạm Văn Huần, vốn là giáo viên trẻ ở một trường tận tỉnh Cà Mau tình nguyện chuyển về đây công tác, Huần đã không giấu nổi niềm vui khi dẫn chúng tôi vào thăm các lớp học. Đó là căn phòng khang trang, sạch sẽ, bàn ghế mới được mua về. Anh tâm sự: “Ban đầu, khi mới đến nhận nhiệm vụ, nhìn cơ sở nghèo nàn, thiếu thốn, học sinh nói tiếng phổ thông chưa sõi; tôi rất lo lắng, sợ khó hoàn thành được nhiệm vụ. Thế nhưng, chỉ một thời gian học tập, các em tiếp thu tốt lắm. Cả trường chỉ có 6 học sinh nhưng vừa rồi, chúng tôi đã cử 3 em về trường chính thi học sinh giỏi. Tuy không được giải song các em chăm học hẳn lên”. Việc ăn ở hợp vệ sinh, bài trừ các hủ tục cũng được đơn vị quan tâm tuyên truyền nên đến nay đã cơ bản chấm dứt tình trạng sinh con thứ 3; ma chay, cưới hỏi cũng dần tân tiến hơn. Số người biết đọc, biết viết trong bản ngày càng nhiều hơn. Chị Phùn Nhì Múi, vợ của Trưởng bản Gioòng Trống Quay xúc động: “- Trước đây, mình cũng vậy, tuy có học bập bõm được vài chữ, nhưng do phải nghỉ học sớm theo gia đình lên nương làm rẫy nên quên hết. Nay bản đã có trường học, mình quyết cho con theo ăn học để đọc sách, đọc báo! Thật là ơn Đảng, ơn Bộ đội Bác Hồ lắm!”.
Tạm biệt Trình Tường, trên đường trở về, từ trên đỉnh núi cao nhìn xuống bản thấy 9 căn hộ khang trang, sây sát nhau như một điểm tựa vững vàng nơi biên giới. Trời đã xẩm tối, bếp nhiều nhà đã đỏ lửa chuẩn bị bữa cơm chiều. Tiếng mõ trâu và lũ trẻ mục đồng đang vội vã rủ nhau về bản. Trên những dãy núi cao, rừng thông mới trồng đang kỳ sinh trưởng khẽ rì rào, đu đưa trong gió. Tất cả những âm thanh ấy như hoà cùng nhau tấu lên bản nhạc ngợi ca cuộc sống mới ở bản mới Trình Tường.