Hưởng ứng Ngày KHCN và Đổi mới sáng tạo Việt Nam (18/5) với chủ đề “KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số - Động lực chính của mô hình tăng trưởng mới”, Quảng Ninh đang từng bước đưa KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào thực tiễn phát triển. Từ hỗ trợ doanh nghiệp nghiên cứu, phát triển sản phẩm mới, ứng dụng công nghệ vào sản xuất đến đầu tư hạ tầng số, dữ liệu số và thu hút công nghiệp công nghệ cao…, những chuyển động này đang tạo nền tảng để tỉnh đổi mới mô hình phát triển theo hướng hiện đại, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Tiếp sức doanh nghiệp đổi mới sáng tạo
Những ngày này, Công ty TNHH Thanh Tùng Vân Đồn đang tập trung triển khai các nội dung của đề tài KHCN cấp tỉnh “Nghiên cứu xây dựng quy trình công nghệ sản xuất viên mắm khô vị sá sùng tại Quảng Ninh”. Đề tài được thực hiện từ tháng 10/2025 đến tháng 4/2027, với tổng kinh phí 4,68 tỷ đồng; trong đó ngân sách nhà nước hỗ trợ 3,48 tỷ đồng.
Hiện doanh nghiệp đang nghiên cứu quy trình sản xuất viên mắm khô vị sá sùng, tập trung vào các khâu xác định thành phần, tỷ lệ nguyên liệu; kỹ thuật tạo viên, làm khô, bao gói và bảo quản sản phẩm. Điểm mới của quy trình là ứng dụng enzyme và công nghệ thủy phân nhằm rút ngắn thời gian sản xuất, đồng thời giữ được dưỡng chất, hương vị và độ ngọt tự nhiên đặc trưng của sá sùng. Cùng trong nội dung đề tài, Công ty đang nghiên cứu hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất nước mắm vị sá sùng. Dự kiến, tháng 10/2026, Công ty sẽ ra mắt thử nghiệm sản phẩm viên mắm khô vị sá sùng và nước mắm vị sá sùng.
Ông Phạm Quang Tùng, Giám đốc Công ty TNHH Thanh Tùng - Vân Đồn, cho biết: Đối với doanh nghiệp địa phương, việc nghiên cứu, phát triển sản phẩm mới từ nguồn nguyên liệu bản địa cần nguồn lực khá lớn, nhất là ở các khâu thử nghiệm, hoàn thiện quy trình công nghệ, kiểm soát chất lượng và xây dựng tiêu chuẩn sản phẩm. Vì vậy, sự quan tâm, hỗ trợ của tỉnh trong triển khai đề tài là động lực quan trọng để doanh nghiệp mạnh dạn ứng dụng KHCN, đổi mới sáng tạo vào sản xuất nhằm nâng cao giá trị sá sùng Vân Đồn nói riêng và đặc sản biển Quảng Ninh nói chung.
Tổ hợp Công ty CP Gốm Đất Việt là doanh nghiệp KHCN. Đơn vị được tiếp cận các chính sách ưu đãi của Nhà nước trong khuyến khích đầu tư công nghệ mới, nghiên cứu khoa học, áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất. Đây là động lực quan trọng để doanh nghiệp kiên trì cải tiến dây chuyền, nâng cao chất lượng sản phẩm và mở rộng thị trường.
Ông Nguyễn Quang Mâu, Chủ tịch HĐQT Tổ hợp Công ty CP Gốm Đất Việt, cho biết: Nhiều năm qua, Công ty đầu tư mạnh vào dây chuyền công nghệ hiện đại nhập khẩu từ các nước tiên tiến như Đức, Italia, kết hợp với các sáng kiến cải tiến do chính đội ngũ kỹ sư của đơn vị phát triển. Nhờ đó, các công nghệ như lò nung tuynel hiện đại, nghiền khô, đùn dẻo, robot và tự động hóa trong một số công đoạn nặng nhọc, tráng men trực tiếp trước khi nung… đã giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, chất lượng, độ bền và tính ổn định của sản phẩm. Các dòng sản phẩm ngói lợp cao cấp, ngói cổ tâm linh, gạch Cotto, gạch Cotto Granite lát nền… của Gốm Đất Việt đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu.
Đến nay, Quảng Ninh có 35 doanh nghiệp KHCN đang hoạt động, tăng gấp 2,5 lần so với năm 2020. Cùng với đó, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa đã chủ động đổi mới công nghệ, nghiên cứu phát triển sản phẩm, đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ, xây dựng thương hiệu, từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh. Trong bối cảnh tỉnh đang triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, việc đồng hành, hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng KHCN không chỉ tháo gỡ khó khăn về nguồn lực nghiên cứu, đầu tư, mà còn tạo động lực đổi mới quy trình, phát triển sản phẩm mới, mở rộng thị trường, đóng góp vào mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
"Chìa khóa" mở cánh cửa tăng trưởng bền vững
Triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị, Quảng Ninh đã ban hành nhiều văn bản quan trọng, tạo cơ sở để thúc đẩy phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đặc biệt, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI tiếp tục khẳng định rõ định hướng: Lấy KHCN, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh làm động lực chính cho phát triển. Từ định hướng đó, tỉnh tập trung hoàn thiện cơ chế, chính sách và nguồn lực cho KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Năm 2025, ngân sách địa phương dành cho lĩnh vực này là 844 tỷ đồng, đạt 2,86% chi ngân sách địa phương; năm 2026 là 1.186 tỷ đồng, đạt 2,96%. Nguồn vốn này tập trung cho chuyển đổi số toàn diện, hạ tầng số, dữ liệu số, nâng cao trình độ công nghệ trong một số lĩnh vực có mục tiêu thuộc nhóm dẫn đầu cả nước như y tế công nghệ cao, chế biến chế tạo công nghệ cao.
Cùng với ngân sách nhà nước, Quảng Ninh còn huy động nguồn lực xã hội, nhất là từ doanh nghiệp. Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam dành hơn 1.206 tỷ đồng để triển khai đề án chuyển đổi số. Tỉnh cũng thu hút một số nhà đầu tư, tập đoàn lớn tham gia sản xuất sản phẩm công nghệ cao với tổng vốn 2,01 tỷ USD, tương đương trên 52.000 tỷ đồng, gồm Lite One, Foxconn, Jinko Solar, Gokin Solar.
Trong các ngành sản xuất truyền thống, KHCN cũng đang tạo ra thay đổi cụ thể. Với ngành than, cơ giới hóa, tự động hóa và chuyển đổi số ngày càng đi sâu vào khai thác, quản lý, điều hành. Các đơn vị thuộc TKV đẩy mạnh cơ giới hóa, tự động hóa và chuyển đổi số trong khai thác, quản lý, điều hành. Năm 2025, sản lượng than khai thác bằng công nghệ cơ giới hóa đạt 4,53 triệu tấn, chiếm 16% tổng sản lượng; năng suất lao động toàn Tập đoàn tăng bình quân 7,8%/năm. Trong nông nghiệp, nhiều dự án chăn nuôi, chế biến nông sản công nghệ cao được triển khai, góp phần thay đổi phương thức sản xuất truyền thống. Trong y tế, các nhiệm vụ khoa học tập trung vào những kỹ thuật chuyên sâu như sàng lọc tiền sản giật sớm, điều trị đột quỵ, hóa mô miễn dịch trong ung thư, kỹ thuật LISA cho trẻ sơ sinh, phẫu thuật ít xâm lấn, qua đó nâng cao năng lực khám, chữa bệnh tại tuyến tỉnh.
Những kết quả bước đầu cho thấy đóng góp ngày càng rõ KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào chất lượng tăng trưởng của tỉnh. Năm 2025, Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp tỉnh (PII) của Quảng Ninh xếp thứ 3 cả nước, sau Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, với 58,41 điểm. Tỷ lệ đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào GRDP đạt 62,51%, cao hơn nhiều so với mức 47,51% của năm 2024. Tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt gần 50%; tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghiệp công nghệ cao trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt trên 19%. Hạ tầng số tiếp tục được mở rộng, tỷ lệ phủ sóng 5G theo dân số đạt 94% và tỉnh đã xóa 100% vùng lõm sóng.