Với mục tiêu đáp ứng đủ nước sạch phục vụ người dân trong tỉnh, nhất là các khu đô thị đông dân cư, khu vực vùng xa, thời gian qua Công ty CP Nước sạch Quảng Ninh đã không ngừng đổi mới, nâng cao kỹ thuật, vận dụng sáng kiến vào điều hành, quản lý, kiểm soát tỷ lệ thất thoát, thất thu. Trong đó, nổi bật phải kể đến là hệ thống giám sát lưu lượng và áp lực nước từ xa qua mạng internet GSM/GPRS/3G.
Trước đây, việc quản lý, điều hành mạng lưới cấp nước trên địa bàn tỉnh của Công ty tương đối khó khăn và thủ công, chủ yếu dựa vào vai trò của cán bộ điều phối phải thường xuyên đi kiểm tra, khảo sát để vận hành. Trong khi, các trạm bơm này phân bố trong một không gian rộng lớn, cách xa nhà máy. Do vậy, đã xảy ra hiện tượng thông tin chuyển về bộ phận điều phối chưa kịp thời, rời rạc, quản lý không đồng nhất. Việc điều phối lưu lượng giữa các tuyến mạng chưa hợp lý, nhiều tuyến nhu cầu của khách hàng lớn, song thời gian cấp nước không đáp ứng đủ, ngược lại nhiều tuyến bị dư thừa trong khi thiết bị, máy móc vẫn phải vận hành. Điều đó đã dẫn đến chi phí sản xuất, tỷ lệ thất thoát, áp lực mạng tuyến tăng, gây lãng phí tài nguyên.
Nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, ứng dụng các công nghệ tiên tiến vào việc quản lý, vận hành mạng lưới cấp nước, tháng 5-2013 Thạc sĩ Trịnh Văn Bình, Phó Tổng Giám đốc Công ty CP Nước sạch Quảng Ninh đã đặt vấn đề cần thay đổi phương thức quản lý mạng lưới theo hướng tích hợp. Sau một thời gian tích cực tham khảo, nghiên cứu, phối hợp với cán bộ kỹ thuật trong Công ty, 5 tháng sau anh đã cho ra đời Hệ thống giám sát lưu lượng và áp lực nước từ xa qua mạng internet GSM/GPRS/3G. Hệ thống này cho phép đọc, ghi các thông tin về lưu lượng và áp lực thông qua hệ thống cảm biến lắp trên các đồng hồ cơ và các đồng hồ áp lực tại trạm. Sau khi dữ liệu được thu thập từ các cảm biến sẽ tự động kết nối, truyền dữ liệu về máy chủ thông qua mạng internet để thống kê, phân tích. Các cảm biến này được thiết kế đảm bảo có thể tích hợp lên các đồng hồ cơ truyền thống đang có trên mạng lưới mà không cần phải đầu tư thay thế.
Thạc sĩ Trịnh Văn Bình cho biết: “Sau một thời gian chạy thử nghiệm đạt hiệu quả, đến nay Công ty đã thực hiện nhân rộng hệ thống trên tất cả các mạng lưới cấp nước do đơn vị quản lý. Qua hệ thống, bộ phận điều phối đã nhận biết được thông tin về lưu lượng, áp lực và nhu cầu sử dụng nước của khách hàng để điều phối kịp thời giữa các tuyến, tránh việc thừa hoặc thiếu lưu lượng tại những thời điểm không cần thiết. Đặc biệt, hệ thống đã góp phần chống thất thoát, giảm chi phí vận hành, tăng sản lượng và doanh thu, thiết lập phương pháp quản lý, vận hành một cách khoa học trên cơ sở nền tảng công nghệ thông tin”.
Hệ thống đưa vào sử dụng, công tác bảo trì, bảo dưỡng, nâng cấp thiết bị giám sát cũng được chủ động, hạn chế chi phí. Bộ phận điều phối còn dễ dàng phát hiện sự cố trên tuyến, những hành vi ăn cắp nước sạch để kịp thời khắc phục, xử lý. Cũng theo ông Bình: “Trước đây, đã có nhiều sự cố, như tuyến ống bị vỡ, bục nằm sâu dưới lòng đất, do vậy công tác phát hiện hết sức khó khăn, chủ yếu dựa vào thông tin từ phía người dân. Đã có sự cố Công ty phải mất gần 9 tháng mới tìm được vị trí để thực hiện sửa chữa, thay thế. Nay với hệ thống giám sát này, Công ty sẽ nhận biết được ngay khu vực rò rỉ do áp lực nước giảm, để xử lý kịp thời”.
Tính ưu việt của hệ thống là có thể giám sát ngay trên các thiết bị cầm tay như điện thoại, máy tính bảng. Do vậy, không chỉ cán bộ chuyên môn trực sự cố kiểm soát mà ban lãnh đạo Công ty cũng như các phòng chuyên môn đều có thể giám sát được mạng lưới cấp nước. Hiện Công ty cung ứng nước sạch cho 180.000 khách hàng với sản lượng 41 triệu m3/năm, tỷ lệ thất thoát nước trên các tuyến ống trước đây là trên 30%. Song từ khi Hệ thống giám sát lưu lượng và áp lực nước từ xa qua mạng internet GSM/GPRS/3G được đưa vào khai thác trên diện rộng, tỷ lệ thất thoát giảm xuống chỉ còn 7%. Công ty cũng đã phát hiện và xử lý kịp thời hơn 200 điểm rò rỉ thất thoát nước, tiết kiệm chi phí sản xuất, làm lợi hàng tỷ đồng.
Đỗ Phương