Trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống đế quốc Mỹ và tay sai, cùng với quân, dân cả nước, Quảng Ninh có hàng vạn lượt người con ưu tú tình nguyện vào Nam chiến đấu. Trong đội quân ấy, có người được trở về với gia đình nhưng cũng có những người đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường, để lại tấm gương sáng về chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Chính họ đã góp phần viết nên bản hùng ca chiến thắng của đất nước.
Sinh ra trên Đất mỏ, nằm lại với đất mẹ miền Nam
Trong hàng vạn người con Quảng Ninh tình nguyện tham gia kháng chiến đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, nhiều người đã hiến dâng trọn đời mình và vĩnh viễn để lại xương máu nơi chiến trường. Trong số những người con ưu tú ấy, có Anh hùng, liệt sĩ Hà Quang Vóc. Ông sinh năm 1947 ở thôn Yên Định, xã Đầm Hà, huyện Đầm Hà. Năm 1966, ông xung phong lên đường nhập ngũ tham gia chiến đấu tại chiến trường Khe Sanh và được biên chế vào Đoàn 305 Đặc công. Quá trình chiến đấu, ông lần lượt được bổ nhiệm đảm trách một số vị trí quan trọng trong Đội 5 Đặc công, thuộc Trung đoàn 10, Đoàn 27, Bộ Chỉ huy Miền. Đây là đơn vị hoạt động ở vùng Mỹ - ngụy phòng thủ kiên cố nhất ở Sài Gòn thời đó. Đặc biệt là ở kho xăng, dầu Nhà Bè được coi là kho hàng lớn cung cấp hơn một nửa số lượng xăng, dầu cho các hoạt động dân sự và quân đội của Mỹ - ngụy, trong đó Shell là kho lớn nhất. Chúng coi đây là điểm tập kết nhiên liệu “bất khả xâm phạm”, nên thực hiện chế độ bảo vệ rất nghiêm ngặt cẩn mật. Điều này khiến việc phá kho nhiên liệu vô cùng khó cho các chiến sĩ đặc công. Năm 1973, Đoàn 10 Rừng Sác đã quyết định giao nhiệm vụ phá kho nhiên liệu của Mỹ - ngụy cho Đội 5 và cử 8 chiến sĩ cảm tử tài giỏi nhất, trong đó có Hà Quang Vóc với vai trò là đội phó tham gia trận đánh. Bằng tinh thần quả cảm, mưu trí, đơn vị của ông đã làm kho xăng Shell nổ tung và bốc cháy dữ dội suốt 12 ngày đêm rồi lan sang kho của các kho xăng khác… Sự kiện kho xăng Nhà Bè bị “Việt cộng” tấn công đã làm náo loạn Sài Gòn, chấn động quốc tế trước thời điểm năm 1975.
Sau trận đánh lừng lẫy đó, ông cùng đồng đội tiếp tục thực hiện nhiều trận đánh khác. Và trong đêm ngày 1-2-1974 trong trận đánh địch trên sông Lòng Tàu, ông đã hy sinh thân mình để giúp cho đồng đội hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần thực hiện kế hoạch phá vành đai bảo đảm cửa ngõ Sài Gòn, đập tan tuyến đường vận chuyển hàng hoá, vũ khí đạn dược về nội thành của Mỹ - ngụy. Ghi nhận những đóng góp ấy, ngày 15-1-1976, liệt sĩ Hà Quang Vóc được Đảng, Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND. Hiện nay, tại thị trấn Đầm Hà, huyện Đầm Hà có một con phố mang tên ông.
Cũng như người Anh hùng đặc công quả cảm Hà Quang Vóc, cuộc đời hoạt động cách mạng của liệt sĩ, Anh hùng LLVTND Đào Phúc Lộc, người con của quê hương nơi địa đầu của Tổ quốc đã trở thành huyền thoại và đi vào lịch sử với những hy sinh thầm lặng. Mẹ mất khi mới lên hai, Đào Phúc Lộc theo chị gái rời quê hương vào Hải Phòng tự lập. Cao trào Cách mạng những năm 1936-1939 khiến hai chị em ông sớm giác ngộ, nhiều lần được tổ chức giao nhiệm vụ đưa tài liệu và truyền đơn từ Liên tỉnh uỷ B về Vùng mỏ. Năm 1941, ông đang là chi uỷ viên Chi bộ Uông Bí - Vàng Danh, vừa về đến Hải Phòng thì sa lưới mật thám. Chúng tra khảo quyết liệt nhưng với ý chí kiên cường “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” người anh hùng ấy không đầu hàng. Vì thế, chúng đã đưa ông về Quảng Yên cho Tuần phủ Cung Đình Vận khai thác thông tin. Khi ấy, ông nhận là đảng viên dự bị nên đã được thụ án tại quê 5 năm.
Sau khi giải phóng Quảng Yên, ông thay mặt Tư lệnh về báo cáo với Trung ương đúng ngày Hà Nội khởi nghĩa và được Đại tướng Võ Nguyên Giáp giữ lại làm Chính trị viên đơn vị Giải phóng quân giải phóng Thủ đô. Sau đó, ông tham gia Quân uỷ hội và khi Bộ Tổng Tham mưu được thành lập, ông được cử làm Trưởng phòng Tình báo. Là Thủ trưởng đầu tiên của ngành Tình báo quân sự Việt Nam, ông nhận nhiệm vụ thay mặt Bộ Tổng Tham mưu đi kiểm tra chiến trường, đồng thời xây dựng mạng lưới tình báo từ Huế, Đà Nẵng đến Khu 5 và Nam Bộ - nơi chiến trường đang nóng bỏng. Đêm 24-12-1969, từ căn cứ Củ Chi, theo đường Tây Ninh vượt sông Vàm Cỏ Đông, ông bị biệt kích Mỹ phục kích. Ông đã anh dũng hy sinh và nằm lại với đất mẹ miền Nam.
Tự hào về những người con của Đất mỏ anh hùng
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ đầy đau thương và hào hùng ấy, quê hương Quảng Ninh đã xuất hiện nhiều cá nhân kiệt xuất, được Đảng và Nhà nước truy tặng, phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND như: Đào Phúc Lộc, Đặng Bá Hát, Đỗ Văn Mến, Phạm Minh Thư, Nguyễn Công Bao, Đoàn Sinh Hưởng, Đỗ Viết Cường… Trong số này, có những người đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường, có những người may mắn đi qua chiến tranh, được chứng kiến sự chuyển mình của đất nước. Dù có những đóng góp lớn lao nhưng trong đời thường họ vẫn sống dung dị, tiếp tục đóng góp cho quê hương, đất nước. Chẳng hạn như Anh hùng LLVTND Đoàn Sinh Hưởng và Đỗ Viết Cường.
Nhắc đến Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, là con, dân đất Việt ai cũng phải dâng tràn cảm xúc. Với tôi, không chỉ là cảm xúc khi được nghe kể về đại thắng mùa xuân năm ấy, mà trong chiến dịch lịch sử đó có sự hiện diện của Anh hùng LLVTND - người con ưu tú của quê hương Bình Ngọc, Móng Cái - Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng, nguyên Tư lệnh Quân khu 4. Những ngày tháng 4 lịch sử này, Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng rất bận rộn. Lúc ông ở TP Hồ Chí Minh, khi thì ở Ban Mê Thuột để thăm lại chiến trường xưa, gặp mặt đồng đội cũ. Dù ở tuổi 66, nhưng trò chuyện với ông, tôi vẫn cảm nhận trong giọng nói hào sảng ấy là nhiệt huyết, là niềm tự hào bất diệt khi ông kể về những năm tháng kháng chiến nảy lửa. Ông bảo: Năm 1966, ông nhập ngũ giữa lúc các chiến trường miền Nam đang đầy lửa, đạn, nhân dân đang rên siết trước mũi giày của giặc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai. Sau thời gian huấn luyện, ông được biên chế vào Đại đội 9, Tiểu đoàn 3, Lữ đoàn 273, Quân đoàn 3. Ông đã vào sinh ra tử ở các chiến dịch ác liệt nhất như Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Tây Nguyên và Chiến dịch Hồ Chí Minh. Sau chiến thắng của ta ở chiến dịch Tây Nguyên tháng 3-1975 và giải phóng tỉnh Phú Yên, Đại đội 9 có nhiệm vụ cơ động chiến đấu từ hướng Tây Ninh tiến về Sài Gòn. Sáng ngày 29-4-1975, sau khi chiếm được cầu An Hạ, Đại đội 9 chỉ còn 4 chiếc xe tăng, trong khi phải đối mặt với thiết giáp đoàn gồm 24 chiếc của kẻ thù. Trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, với bản chất Bộ đội Cụ Hồ không chịu lùi bước trước bất kỳ khó khăn, gian khổ nào, ông và đồng đội xác định “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Bình tĩnh chọn chiến thuật tổng lực và chiếm giữ vị trí địa hình có lợi nhất, chỉ sau 1 giờ, Đại đội đã bắn cháy 12 thiết giáp của địch và tịch thu 12 xe tăng để bổ sung cho đơn vị. Đại đội nhanh chóng tiến vào thành Quan Năm (Củ Chi), tiến thẳng vào Quang Trung, ngã tư Bảy Hiền, rồi đánh ngược về sân bay Tân Sơn Nhất và kết thúc bằng trận đánh vào Bộ Tổng tham mưu của ngụy quyền Sài Gòn trưa ngày 30-4-1975. Trải qua nhiều cương vị công tác từ Tư lệnh Binh chủng Tăng Thiết giáp, Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân khu 4 đến Tư lệnh Quân khu 4, năm 2008 Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng nghỉ hưu và sống một cuộc sống bình dị tại TP Vinh, tỉnh Nghệ An. Ông bảo: “Tuy không sống ở quê nhưng lúc nào cũng quan tâm đến Quảng Ninh. Một năm cũng về quê vài bận. Vừa rồi, tôi về thanh minh và gặp đồng đội cũ. Nhìn thấy quê mình phát triển tôi mừng lắm”.
Trong hàng vạn người con ưu tú của Quảng Ninh tình nguyện tham gia chiến trường thời kỳ chống Mỹ, tên tuổi Anh hùng LLVTND Đỗ Viết Cường cũng gắn liền với những chiến công đánh tàu của Mỹ. Quê ông ở xã Mỹ Sơn, huyện Quảng Hà, nay là huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh. Tròn 18 tuổi, người thanh niên Đỗ Viết Cường gác bút nghiên tình nguyện lên đường nhập ngũ. Trong kháng chiến, từ năm 1970 đến năm 1972, ông làm nhiệm vụ đánh địch ở Cửa Việt. Chiến trường nảy lửa, ông cùng đồng đội nêu cao ngọn cờ, kiên quyết vượt qua mọi khó khăn gian khổ để đánh địch. Trong những trận đánh ở Cửa Việt, dù hai lần bị thương nặng nhưng ông vẫn nêu cao quyết tâm “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, cùng đồng đội đánh chìm và hỏng nhiều tàu của địch, làm ách tắc cửa sông, khiến chúng bị tổn thất nặng nề. Với những chiến công anh dũng ấy, năm 1973 ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND ở tuổi 23. Sau đó, ông làm Đội phó Đội Đặc công nước Hải quân, trực tiếp chỉ huy giải phóng đảo Sơn Ca thuộc quần đảo Trường Sa; đảm nhận các vị trí Phó đoàn trưởng Đoàn Đặc công, Lữ đoàn trưởng Hải quân đánh bộ M47. Cả đời ông gắn bó với nghiệp nhà binh. Hiện nay với cương vị là Chủ tịch Hội Cựu chiến binh tỉnh, ông vẫn luôn giữ vững phẩm chất anh Bộ đội Cụ Hồ, sống giản dị, khiêm tốn, được đồng đội và nhân dân tin yêu.
Tấm gương về những Anh hùng trong kháng chiến luôn là niềm tự hào của người dân Vùng mỏ và nhân dân cả nước. Ngày nay, thế hệ trẻ vẫn trân trọng nhắc đến họ với sự tri ân sâu sắc và niềm tự hào như biểu tượng sáng ngời của ý chí quyết tâm, sức mạnh đoàn kết của dân tộc Việt Nam.
Nguyễn Huế