Ngày 9/3/2019, tại tỉnh Quảng Ninh, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh và Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng tổ chức Hội nghị sơ kết đánh giá tình hình, kết quả thực hiện Chương trình hợp tác phát triển giữa tỉnh Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng theo Thông báo số 01-TB/TU/LT ngày 3/9/2013 và Thông báo số 194-TB/TU/LT ngày 30/5/2014 giữa Tỉnh ủy Quảng Ninh và Thành ủy Hải Phòng. Sau khi nghe đại diện lãnh đạo hai tỉnh, thành phố báo cáo, trao đổi, đề xuất và ý kiến phát biểu của các đại biểu, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh và Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng thống nhất kết luận như sau:
I- ĐÁNH GIÁ CHUNG
Thời gian qua, thực hiện chương trình hợp tác phát triển, hai tỉnh, thành phố đã chỉ đạo tổ chức thực hiện bằng nhiều việc làm cụ thể, đạt được những kết quả có ý nghĩa hết sức quan trọng trên các lĩnh vực tạo điểm nhấn đột phá về phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh được các lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các bộ, ban, ngành Trung ương và nhân dân hai tỉnh, thành phố đồng tình ủng hộ: (1) Phối hợp triển khai thực hiện quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội Vùng đồng bằng sông Hồng, Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ; (2) Tập trung triển khai cụ thể hóa các nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương trực tiếp đối với từng địa phương, góp phần tích cực phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương và vùng; (3) Cùng thống nhất kiến nghị với Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương về những vấn đề tương đồng giữa hai địa phương, đặc biệt trong kết nối hạ tầng giao thông tuyến cao tốc Hà Nội - Hải Phòng - Hạ Long. (4) UBND hai tỉnh, thành phố, các sở, ngành chức năng, UBND các địa phương giáp ranh đã tích cực triển khai liên kết trên các lĩnh vực như: Phát triển du lịch, nông nghiệp, thương mại, kinh tế biển, văn hóa, giáo dục, đào tạo, y tế, bảo vệ môi trường; đặc biệt là tăng cường hợp tác, liên kết thực hiện có hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh than, cát, đá sỏi, về quốc phòng, an ninh, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, an toàn giao thông.
Tuy nhiên, sự liên kết, phối hợp giữa hai địa phương trong thời gian qua còn chưa đạt như mong muốn: (1) Hợp tác liên kết, xây dựng các tour tuyến, phát triển sản phẩm du lịch, phát triển kinh tế biển, cảng biển chưa tương xứng với tiềm năng của hai bên. (2) Hợp tác, liên kết trong sản xuất, kinh doanh giữa các doanh nghiệp 2 địa phương còn thiếu sự liên kết phát triển chuỗi giá trị sản phẩm vùng. (3) Quá trình phát triển chủ yếu dựa vào “lợi thế tĩnh” về điều kiện tự nhiên để kêu gọi đầu tư, còn thiếu sự liên kết chặt chẽ để tạo ra “lợi thế động” do vậy khó có thể đẩy mạnh phát triển và nâng cao sức cạnh tranh toàn vùng. (4) Cơ chế điều hành, thủ tục hành chính của chính quyền các cấp giữa một số địa phương còn có sự khác biệt nên đã tạo ra những vướng mắc trong việc xử lý một số vấn đề cụ thể. (5) Ranh giới giữa hai tỉnh, thành phố trên nhiều đoạn, tuyến chưa có sự thống nhất nên gặp khó khăn trong việc quyết định nhà đầu tư vào nghiên cứu, tìm hiểu cơ hội đầu tư.
II- MỘT SỐ NỘI DUNG TRỌNG TÂM HỢP TÁC THỜI GIAN TỚI
Thành phố Hải Phòng và tỉnh Quảng Ninh tiếp tục triển khai hiệu quả Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Hội nghị Trung ương 8 (khóa XII) về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết 45-NQ/TW ngày 24/01/2019 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Thông báo số 21-TB/TW ngày 22/3/2017 của Bộ Chính trị về các đề án xây dựng đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt Vân Đồn (Quảng Ninh), Bắc Vân Phong (Khánh Hòa), Phú Quốc (Kiên Giang); Thông báo số 06-TB/VPTW ngày 09/5/2016 về kết quả chuyến thăm và làm việc của đồng chí Tổng Bí thư tại tỉnh Quảng Ninh; Thông báo số 52-TB/VPTW ngày 23/11/2017 về kết quả chuyến thăm và làm việc của đồng chí Tổng Bí thư tại thành phố Hải Phòng và các chỉ đạo khác có liên quan của Trung ương. Đồng thời, tập trung thực hiện các nội dung hợp tác với nguyên tắc hai bên cùng phát triển, tạo động lực cho phát triển vùng, nâng cao năng lực liên kết cạnh tranh quốc tế trên những lĩnh vực chủ yếu sau:
1. Tiếp tục nâng cao hiệu quả liên kết phát triển du lịch
(1) Hai bên đẩy mạnh hợp tác phát triển du lịch Quảng Ninh - Hải Phòng, trong đó tập trung vào các lĩnh vực: Quản lý nhà nước về du lịch; phát triển sản phẩm du lịch; quảng bá xúc tiến du lịch; phát triển nguồn nhân lực; bảo vệ môi trường tự nhiên và môi trường kinh doanh du lịch nhằm phát triển kinh tế du lịch, phát huy các tiềm năng, thế mạnh của mỗi địa phương, tạo cạnh tranh lành mạnh trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế; xây dựng Cát Bà, Đồ Sơn (Hải Phòng) và Hạ Long (Quảng Ninh) trở thành trung tâm du lịch quốc tế; đồng thời đáp ứng yêu cầu mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương.
(2) Hai bên thống nhất giao các cơ quan chức năng xây dựng Quy chế phối hợp quản lý nhà nước đối với hoạt động vận chuyển khách du lịch trên khu vực Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) và Vịnh Lan Hạ (Hải Phòng) thống nhất về tiêu chuẩn, quy chuẩn, không gia tăng phương tiện ngủ đêm trên Vịnh; cùng tạo ra hành lang pháp lý thống nhất, đồng bộ trong giải quyết các vấn đề chung có liên quan, nhằm đảm bảo an toàn, an ninh, trật tự, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững; đồng thời, nâng tầm quản lý theo mô hình chuyên nghiệp, chuẩn quốc tế với các sản phẩm du lịch, dịch vụ đặc sắc.
(3) Tỉnh Quảng Ninh tiếp tục phối hợp với thành phố Hải Phòng lập hồ sơ “Vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà” trình cấp có thẩm quyền và Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) công nhận “Vịnh Hạ Long -Quần đảo Cát Bà” là Di sản thế giới.
2. Về phát triển hạ tầng giao thông kết nối giữa tỉnh Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng
(1) Hai tỉnh, thành phố thống nhất chủ trương, cân đối ngân sách địa phương, phối hợp báo cáo Bộ Giao thông vận tải đề nghị triển khai đầu tư dự án cải tạo nâng cấp Quốc lộ 10 đoạn từ Nút giao với Quốc lộ 18A (tỉnh Quảng Ninh) đến Cầu vượt Quán Toan (thành phố Hải Phòng) với quy mô 4 làn xe theo quy hoạch đã phê duyệt đảm bảo tính đồng bộ của hệ thống hạ tầng giao thông, đáp ứng nhu cầu vận chuyển hành khách, hàng hóa Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, theo nguyên tắc đoạn tuyến đi qua địa phương nào thì địa phương đó thực hiện. Phấn đấu hoàn thành trong giai đoạn 2020 - 2021.
(2) Hai bên tập trung lãnh đạo, chỉ đạo ưu tiên cân đối ngân sách địa phương để đầu tư xây dựng cầu Lại Xuân (do thành phố Hải Phòng thực hiện công tác chuẩn bị đầu tư và làm chủ đầu tư dự án), phấn đấu khởi công trong năm 2019, hoàn thành trong năm 2020; xây dựng cầu Bến Rừng (thành phố Hải Phòng nghiên cứu lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi riêng phần cầu, xin ý kiến các cấp có thẩm quyền nếu cần thiết), phấn đấu khởi công trong năm 2020 theo nguyên tắc: Phần kinh phí xây dựng cầu mỗi bên thực hiện một nửa; đường dẫn thuộc bên nào thì bên đó đầu tư.
(3) Hai bên phối hợp chặt chẽ trong việc quản lý nhà nước về vận tải đường bộ, đường thủy, cảng biển; phát triển vận tải hành khách công cộng (như xe điện, xe buýt...) kết nối từ trung tâm thành phố Hải Phòng đến trung tâm thành phố Hạ Long và ngược lại, góp phần giao thương, phát triển kinh tế - xã hội giữa hai địa phương và kết nối phát triển kinh tế liên tỉnh, vùng, liên vùng trong thời gian tới.
3. Hợp tác cùng khai thác không gian phát triển chung
(1) Hai bên thúc đẩy hợp tác có hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng dịch vụ logistic kết nối Hải Phòng - Quảng Ninh nhằm khai thác tối đa lợi thế cạnh tranh mới của Cảng hàng không quốc tế Cát Bi - Cảng Hải Phòng - Cảng Lạch Huyện - Cảng Cái Lân - Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn với tuyến cao tốc Hải Phòng - Hạ Long - Vân Đồn (tương lai là cao tốc Vân Đồn - Móng Cái) với cửa khẩu quốc tế Móng Cái, cửa khẩu Bắc Phong Sinh, Hoành Mô mà Hải Phòng là cảng đích của các hãng tàu biển cập cảng làm thủ tục hải quan, kiểm định quốc tế, các doanh nghiệp vận tải đường bộ nhận container vận tải qua Quảng Ninh đi Móng Cái, Bình Liêu, Hải Hà…
(2) Chỉ đạo các cơ quan chức năng hai bên tiếp tục hỗ trợ, phối hợp chặt chẽ trong việc xử lý thủ tục hành chính cho các doanh nghiệp đảm bảo nhanh gọn, thông thoáng để khai thác hiệu quả cảng biển Quảng Ninh, nhất là cảng Cái Lân (tỉnh Quảng Ninh) gắn kết với cảng biển Hải Phòng (thành phố Hải Phòng); xây dựng Quy chế phối hợp liên quan đến giải quyết thủ tục hải quan, kiểm định, kiểm hóa hàng nhập, hàng xuất thông qua cảng, góp phần kết nối khu vực tam giác phát triển Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh.
4. Phối hợp về công tác bảo đảm an ninh trật tự, phòng chống tội phạm tại các vùng tiếp giáp giữa hai tỉnh, thành phố
(1) Hai bên tiếp tục phối hợp, trao đổi trong lĩnh vực đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phòng, chống các loại tội phạm (về hình sự, cướp, cướp giật, ma túy, kinh tế, môi trường…), trong đó quan tâm đến tội phạm liên tỉnh và tội phạm công nghệ cao; quản lý hành chính về trật tự an toàn xã hội, trật tự an toàn giao thông, nhất là công tác bảo đảm an toàn giao thông, phòng chống tội phạm trên tuyến cao tốc Hải Phòng - Hạ Long và xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh, góp phần ổn định, tạo điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội của hai địa phương.
(2) Hai bên đẩy mạnh thực hiện nghiêm Quy chế phối hợp trong công tác quản lý, trao đổi thông tin để kiểm tra, kịp thời xử lý các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về khai thác, kinh doanh than, bã sàng, đá xít thải có than giữa tỉnh Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng và theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 26/8/2015; Quy chế phối hợp trong công tác quản lý, trao đổi thông tin để kiểm tra, kịp thời xử lý các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về khai thác, vận chuyển và sử dụng cát, sỏi trái phép trên sông, cửa biển và hoạt động nạo vét luồng đường thủy nội địa, vùng nước cảng, bến thủy nội địa. Chỉ đạo các cơ quan chức năng phối hợp chặt chẽ, kịp thời trong công tác tham mưu, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật lĩnh vực tài nguyên và môi trường có liên quan đến quyền lợi, trách nhiệm giữa hai địa phương để nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tài nguyên, khoáng sản, môi trường.
(3) Hai bên hợp tác chặt chẽ trong công tác phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn khu vực giáp ranh địa giới hành chính giữa hai tỉnh, thành phố. Phối hợp thực hiện các chương trình, dự án ứng phó biến đổi khí hậu mang tính liên kết vùng giữa Hải Phòng và Quảng Ninh, đặc biệt trong lĩnh vực trồng và bảo vệ rừng ngập mặn; triển khai các mô hình sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu khu vực ven biển. Tổ chức tuần tra chung, kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động thủy sản vùng biển giáp ranh, vùng biển xa bờ vịnh Bắc Bộ.
5. Hợp tác về bảo vệ môi trường vùng giáp ranh, vùng bờ, vịnh và các dòng sông: Sông Chanh, sông Bạch Đằng
(1) Hai bên đẩy mạnh hoạt động liên kết về bảo vệ môi trường, kiểm soát chặt chẽ việc quản lý, xử lý nước thải, khí thải đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh, khu công nghiệp, khu dân cư sinh sống tại khu vực giáp ranh, vùng Vịnh Hạ Long, Vịnh Lan Hạ, đảo Cát Bà, vùng ven bờ sông Chanh, sông Bạch Đằng giữa tỉnh Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng. Có quy định về vật liệu làm các nhà lồng bè nuôi trồng thủy sản thân thiện với môi trường và phải thực hiện triệt để trong năm 2019; hình thành các tổ chức thu gom rác thải trên vịnh mà địa phận hai bên quản lý.
(2) Hai bên phối hợp chặt chẽ trong công tác cấp phép, giám sát các hoạt động nạo vét, đổ thải đối với các dự án nạo vét luồng, cảng, bến; ưu tiên huy động mọi nguồn lực cùng tham gia ứng phó sự cố thiên tai, sự cố môi trường, tràn dầu, kiểm soát các nguồn ô nhiễm bảo vệ môi trường vùng giáp ranh.
6. Hợp tác về bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị của các di tích lịch sử ven sông Bạch Đằng
(1) Hai bên tăng cường, phối hợp chặt chẽ về công tác tuyên truyền, giáo dục và ghi nhớ truyền thống yêu nước đối với nhân dân cả hai tỉnh, thành phố, các thế hệ người Việt Nam; đồng thời giới thiệu với bạn bè quốc tế về lịch sử dân tộc Việt Nam anh hùng trong lịch sử giữ nước đối với chiến thắng trên sông Bạch Đằng (ba lần chứng kiến quân và dân ta chiến thắng oanh liệt quân xâm lược phương Bắc năm 938, năm 981 và đỉnh cao là chiến thắng Bạch Đằng năm 1288).
(2) Tăng cường hợp tác, trao đổi kinh nghiệm xây dựng và thực hiện cơ chế chính sách để thực hiện đồng bộ công tác bảo tồn, phát huy giá trị của các di tích lịch sử ven sông Bạch Đằng mà mỗi bên đang quản lý.
(3) Phối hợp chặt chẽ nghiên cứu kết nối, quảng bá, tổ chức đưa du khách đến thăm quan Khu di tích Bạch Đằng Giang, thành phố Hải Phòng và Khu di tích Quốc gia đặc biệt Bạch Đằng, tỉnh Quảng Ninh, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội hai tỉnh, thành phố và giáo dục truyền thống lịch sử.
III- TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Giao Ban cán sự đảng UBND tỉnh Quảng Ninh và Ban cán sự đảng UBND thành phố Hải Phòng chỉ đạo xây dựng, ban hành chương trình, kế hoạch; phân công trách nhiệm, chỉ đạo các cấp, ngành, địa phương, đơn vị triển khai cụ thể hóa nội dung hợp tác; định kỳ đánh giá, báo cáo kết quả với Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Thành ủy.
2. Các sở, ban, ngành chức năng và các địa phương liên quan của hai tỉnh thành chủ động xây dựng chương trình hợp tác nhằm cụ thể hóa các nội dung phối hợp giữa hai tỉnh, thành phố; phối hợp chặt chẽ trong quá trình tổ chức thực hiện và kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc nảy sinh. Những vấn đề vượt thẩm quyền cần kịp thời báo cáo và xin ý kiến chỉ đạo của cấp trên. Cụ thể:
(1) Giao Sở Du lịch Quảng Ninh, Sở Du lịch Hải Phòng chủ trì, phối hợp với Ban quản lý vịnh Hạ Long, Ban quản lý các vịnh thuộc quần đảo Cát Bà và các đơn vị, địa phương liên quan tham mưu, tổ chức thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu quả liên kết phát triển du lịch; xây dựng Quy chế phối hợp quản lý nhà nước đối với hoạt động vận chuyển khách du lịch trên khu vực vịnh Hạ Long và vịnh Lan Hạ.
(2) Giao Sở Giao thông Vận tải hai tỉnh, thành phố chủ trì, phối hợp tham mưu, tổ chức thực hiện các giải pháp phát triển hạ tầng giao thông kết nối giữa Quảng Ninh - Hải Phòng.
(3) Giao Công an, Bộ Chỉ huy Quân sự, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng hai tỉnh, thành phố chủ trì, phối hợp tham mưu, thực hiện các giải pháp bảo đảm an ninh trật tự, phòng chống tội phạm tại các vùng tiếp giáp giữa hai tỉnh, thành phố.
(4) Giao Sở Tài nguyên Môi trường hai bên chủ trì, phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, các đơn vị, địa phương liên quan tham mưu, tổ chức thực hiện các nội dung hợp tác về bảo vệ môi trường vùng giáp ranh, vùng bờ, vịnh và các dòng sông: Sông Chanh, sông Bạch Đằng.
(5) Giao Sở Văn hóa Thể thao chủ trì, phối hợp với Sở Du lịch các đơn vị, địa phương liên quan tham mưu, tổ chức thực hiện các giải pháp bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị của các di tích lịch sử ven sông Bạch Đằng.
3. Hằng năm, tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng và Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh theo cơ chế luân phiên đánh giá tình hình, kết quả hợp tác giữa hai địa phương và xác định nội dung trọng tâm hợp tác trong thời gian tới.