Với bất cứ ai là con dân nước Việt, hai tiếng Trường Sơn đều gợi lên những cảm xúc mãnh liệt về một thời hào hùng của dân tộc. "Trường Sơn đông nắng tây mưa/Ai chưa đến đó như chưa rõ mình...”. Câu thơ ấy của nhà thơ Tố Hữu là nói đến Trường Sơn của một thời máu lửa; mà không hiểu sao, vào những ngày tháng bảy này, trong không gian thật tĩnh lặng, thật yên bình của Trường Sơn, khi đứng trước những ngôi mộ liệt sĩ trắng xoá giữa màu xanh bạt ngàn cây lá, tôi cứ ngỡ như nhà thơ đang nói hộ lòng mình...
>>Kỳ hai: Từ địa đạo Vịnh Mốc tới Thành cổ Quảng Trị
Cây bồ đề hàng ngày vẫn vươn cành ôm ấp cho Đài tưởng niệm các liệt sĩ tại Nghĩa trang Trường Sơn Trước khi rời Đồng Hới để đi viếng thăm nghĩa trang Trường Sơn, tất cả anh em trong đoàn chúng tôi đều thay đổi trang phục. Những cựu chiến binh thì trang nghiêm trong bộ quân phục đại lễ, với mũ lưỡi trai, cầu vai, huy hiệu; còn những ĐVTN thì tươi trẻ trong bộ quần áo đồng phục màu xanh lá cây, mũ tai bèo... Trông ai cũng mới lạ! Cũng đầy xúc động! Tôi cũng vậy, dẫu đã đến thăm nghĩa trang Trường Sơn một vài lần, nhưng lòng vẫn bồi hồi. Một đồng nghiệp ở Báo Quảng Trị đi cùng chúng tôi, nói: ''- Không riêng gì các bạn từ tỉnh xa tới, ngay người dân Quảng Trị, khi đến thăm nghĩa trang Trường Sơn, cũng đều có tâm trạng như vậy! Hình như linh hồn hàng ngàn, hàng vạn liệt sĩ đang nằm đây đã làm cho mảnh đất này thành chốn linh thiêng mà bất cứ ai cũng đều cảm nhận được!”... Đoàn chúng tôi tới Nghĩa trang khi chiều đã muộn. Nhưng ở khu trung tâm, nơi có Đài tưởng niệm đặt trên đồi cao, vẫn rất đông người từ các vùng, miền khác nhau về đây dâng hương. Trong nắng chiều hắt xuống, những bức phù điêu bằng đá, chạm khắc hình ảnh các binh chủng bộ đội Trường Sơn năm xưa, đặt hai bên lối lên Đài tưởng niệm, cứ lấp loáng, nửa như thực, nửa như ảo. Còn Đài tưởng niệm làm bằng đá cẩm thạch thì vút lên không trung, được phản chiếu bởi những tia nắng trong làn khói hương nghi ngút, tạo thành vầng hào quang lung linh, càng khiến cho khung cảnh vốn đã trang nghiêm, thêm sự huyền ảo, linh thiêng. Tôi để ý sát ngay phía sau Đài tưởng niệm có một cây bồ đề cành lá sum suê, ôm ấp cho bức tượng đài, tạo nên sự cân đối, hài hoà như một sự sắp đặt theo chủ ý của nhà thiết kế... Và vì thế, tôi rất ngạc nhiên khi nghe anh Nguyễn Tất Quang, một cán bộ của Ban Quản lý Nghĩa trang, người đưa chúng tôi đi thăm các khu mộ, bảo rằng cây bồ đề này không phải do ai trồng mà tự mọc lên. Cách đây tròn ba mươi năm, vào dịp tháng 10-1977, khi Nghĩa trang mới khánh thành được 6 tháng thì người ta thấy nhú lên ở đây một mầm cây bồ đề non tơ, yếu ớt. Và rồi cây bồ đề lớn rất nhanh, chẳng mấy chốc đã tươi cành, xanh lá, quanh năm che mát cho Đài tưởng niệm. Một điều nữa cũng chỉ có thể giải thích bằng ''tâm linh'' là không hiểu sao, như anh Quang nói, ở khu vực này, trong vòng bán kính mười cây số, người ta không hề thấy có một cây bồ đề nào! Điều đó khiến cây bồ đề trở thành cây thiêng ở nghĩa trang Trường Sơn! Sau khi dâng hương tại Đài tưởng niệm, anh Quang đưa chúng tôi đến khu mộ các liệt sĩ người Quảng Ninh tại nghĩa trang Trường Sơn. Khu mộ nằm trên quả đồi thứ 5, cùng với các khu mộ liệt sĩ Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hải Phòng, Sơn La, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lai Châu. Xen kẽ giữa các khu mộ là những vạt rừng thâm nghiêm, dịu mát, với những tượng đài đặt trong vườn, bên lối đi được lát đá, gạch hoặc tráng xi măng, quanh năm hoa đại thơm ngát. Đó là những bức tượng nữ chiến sĩ chữa đường ống xăng dầu, tượng cô gái Vân Kiều đi tải đạn, tượng bộ đội ta hành quân vào Nam đánh giặc, tượng bà mẹ và em bé Lào với anh bộ đội Việt Nam, tượng cô giao liên v.v... Nhìn những bức tượng trong vườn tượng gần khu mộ liệt sĩ Quảng Ninh này, mỗi người trong đoàn chúng tôi có những cảm xúc khác nhau. Những cựu chiến binh từng ''xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước'' năm xưa thì bồi hồi nhớ lại những kỷ niệm thời quân ngũ; còn những bạn trẻ ĐVTN, lại liên tưởng đến những bài thơ, bài văn viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ hào hùng của dân tộc mà họ đã học trong nhà trường... Các thành viên trong đoàn thắp hương tưởng nhớ các liệt sĩ tại khu mộ liệt sĩ Quảng Ninh. Chia tay những liệt sĩ ở nghĩa trang Trường Sơn, mặc dù hoàng hôn đã buông xuống, song tất cả anh em trong đoàn đều nhất trí rẽ qua nghĩa trang Đường Chín, nơi có gần hai trăm liệt sĩ Quảng Ninh đang yên nghỉ. Khác với nghĩa trang Trường Sơn, các liệt sĩ đang yên nghỉ tại nghĩa trang Đường Chín quần tụ trên một khu đồi cao, không phân ra thành từng khu vực tỉnh, thành. Và cũng khác với nghĩa trang Trường Sơn, trong hơn một ngàn ngôi mộ ở nghĩa trang Đường Chín có rất nhiều những ngôi mộ tập thể, mộ liệt sĩ chưa biết tên; trong đó có những ngôimộ nổi tiếng như mộ 80 liệt sĩ chưa biết tên thuộc Tiểu đoàn 31 đặc công hy sinh ở Cam Thành - Cam Lộ vào ngày 26-8-1966... Đứng trước những ngôi mộ ấy, ta mới cảm nhận đầy đủ hơn cái giá của cuộc sống hôm nay, một cuộc sống phải đổi bằng biết bao xương máu của hàng vạn, hàng vạn liệt sĩ trên khắp mọi miền Tổ quốc... Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, thuộc địa phận xã Vĩnh Trường, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Đây là nơi yên nghỉ của các chiến sĩ đã ngã xuống trong 16 năm khai mở, giữ vững và phát triển đường mòn Hồ Chí Minh huyền thoại. Nghĩa trang được khởi công xây dựng vào ngày 24-10-1975 và hoàn thành vào ngày 10-4-1977. Hiện nay, trong khuôn viên gần 40 ha của nghĩa trang có 10.263 ngôi mộ liệt sĩ. Còn Nghĩa trang Đường Chín (tại km số 6 của quốc lộ số 9) là nơi yên nghỉ của 1.045 liệt sĩ được quy tập từ các chiến trường Quảng Trị và từ nước bạn Lào... Những năm gần đây, cũng như những nghĩa trang quốc gia khác, nghĩa trang Trường Sơn và nghĩa trang Đường Chín đã được tôn tạo khang trang hơn rất nhiều. Và cùng với sự tôn tạo toàn bộ nghĩa trang Trường Sơn nói chung của Nhà nước, khu mộ liệt sĩ Quảng Ninh mới đây cũng đã được tỉnh đầu tư nâng cấp, như làm mới Nhà tưởng niệm, nhà bia, mở rộng đường vào khu mộ, thay biểu tượng, làm thêm sân, vườn, chậu cảnh v.v... với số tiền lên tới gần một tỷ đồng. Đây là một trong những việc làm thiết thực, thể hiện tình cảm của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Quảng Ninh đối với các liệt sĩ trong dịp kỷ niệm 60 năm ngày TBLS, 27/7 (1947-2007). Hết