Có thể nói, ở Trường Sa, mỗi người lính đều ẩn chứa sự tích anh hùng, từng sự vật đều gợi lên sự phi thường, chí ít cũng đáng để mọi người biết tới.
>>>Kỳ I: Quảng Ninh với Trường Sa
>>>Kỳ II: Cây ở Trường Sa
>>>Kỳ III: Bia ở Trường Sa: “NAM QUỐC SƠN HÀ NAM ĐẾ CƯ”
Trong đêm liên hoan chia tay đoàn công tác, một đồng nghiệp của chúng tôi thốt lên: “Bất đáo Trường Sa phi ký giả!”. Với nhà báo, ở Trường Sa cái gì cũng mới, cái gì cũng gợi lên một ý nghĩa nào đó mà nhà báo thấy cần thiết chuyển tải đến công chúng. Bộn bề ghi chép, cái gì cũng muốn được viết ra, nhưng rồi sẽ viết những gì trước, bắt đầu từ đâu là vấn đề luôn trăn trở. Đồng chí đại tá Nguyễn Cộng Hòa, Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Hải Quân, trong lần gặp gỡ riêng với các nhà báo cho biết mới đọc một bài báo viết về Trường Sa rất hay. Bài báo chỉ viết về lá Quốc kỳ treo ở cột mốc chủ quyền. Chỉ viết về một việc là để có được lá cờ lúc nào cũng đỏ thắm, kiêu hãnh giữa mây trời, sóng biển, nhưng lại nói được nhiều điều về người lính Trường Sa.
Đảo Tiên Nữ.
Các đảo có được cơ ngơi như hôm nay là một chặng đường phấn đấu đầy gian khó, hy sinh, nhất là ở những đảo chìm. Ở đảo chìm, trụ sở đầu tiên là pông tông kéo lên bãi san hô. Sau đó cắm cọc làm nhà giàn. Tiếp theo là xây trụ sở đảo kiểu như lô cốt. Hiện một số đảo chìm, bên cạnh trụ sở xây mới vẫn còn trụ sở cũ kiểu lô cốt, có nơi vẫn còn thấy pông hỏng, cọc nhà giàn. Tại khu vực đảo Cô Lin, Len Đao, Gạc Ma, đoàn chúng tôi đã tổ chức lễ tưởng niệm các anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh anh dũng tại nơi này, trong trận chiến đấu ngày 14-3-1988, khi tàu vận tải đưa bộ đội ta và vật liệu xâv dựng tới đóng quân, xây dựng đảo. Khi vòng hoa tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ của đoàn được thả xuống biển, nhất loạt mọi người thả từng bông hoa từ mạn tàu. Tôi chọn một bông huệ, một bông hồng thả xuống biển và tưởng tượng trong tiếng gió, trong tiếng sóng có lời của các anh. Các anh vẫn đang canh giữ biển đảo cho Tổ quốc. Trong số cán bộ, chiến sĩ hy sinh ngày ấy ở nơi này, nhiều người còn rất trẻ. Công tác hôm nay của các chiến sĩ hải quân vẫn còn nhiều gian khó, thử thách, đòi hỏi tinh thần sẵn sàng hy sinh. Tại đảo Nam Yết, chúng tôi đã tới thắp hương viếng mộ liệt sĩ Hoàng Đặng Hùng, sinh ngày 17-5- 1984, hy sinh ngày 25-7-2004, quê gốc xã Thanh Bình, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, nguyên quán xã Hoà Bình, huyện Thuỷ Nguyên, TP Hải Phòng, hy sinh trong khi làm nhiệm vụ ở đảo Đá Lớn. Được biết ông ngoại của liệt sĩ Hoàng Đặng Hùng cũng là liệt sĩ.
Thả vòng hoa tưởng niệm các anh hùng, liệt sĩ hy sinh ở Trường Sa. Chuyến đi này ai cũng chuẩn bị tinh thần sẵn sàng say sóng. Thế rồi biển lặng đến mức có người còn muốn có sóng để... làm kỷ niệm. Sau gần ba ngày xuất phát, khi tàu chuẩn bị thả neo vào đảo Nam Yết thì gặp cá heo nhảy múa. Có người nói, biển lặng thế này mà gặp cá heo thì sẽ có gió mùa, sóng vào vài ngày tới. Thế mà cả 10 ngày Trường Sa biển lặng, hành trình êm ru. Có lẽ đây là may mắn của chuyến đi, vào đúng những ngày biển lặng của “tháng ba, bà già đi biển''.
Không chỉ bất ngờ bởi biển lặng, mà mặc dù đã hình dung, song chúng tôi còn bất ngờ với việc chăn nuôi ở các đảo. Con vật được theo bộ đội đến với các đảo ở Trường Sa đầu tiên có lẽ là chó. Hiện ở các đảo chìm thì chó là vật nuôi gần như duy nhất. Năm 2006, đảo Tiên Nữ“tăng gia'' được 255 kg thịt chó. Khi chúng tôi đến thăm, Tiên Nữ đang còn đàn chó 26 con, trong đó có 2 con đang có chửa. Đàn chó của đảo Nam Yết tới 80 con. Đồng chí đại tá Nguyễn Văn Niên, Phó Tư lệnh Vùng 4 Hải quân cho biết, ban đêm chó cũng ''canh gác'' đảo. Động tĩnh gì là sủa cắn, con vích vừa vào sát mép đảo là bị chó phát hiện. Có đảo khi có khách, chó còn bơi đón xuồng chở khách từ xa, khi tới gần xuồng thì bơi quay vào dẫn đường. Những chuyện ở Trường Sa làm chúng tôi ngỡ ngàng như thế này không ít. ở đảo Sinh Tồn Đông, tôi được nghe đảo trưởng báo cáo với đoàn cả việc phòng chống ngập lụt. Đảo nhỏ, xung quanh là biển thì lụt thế nào được. Nhưng đây lại là một thực tế. Nếu không làm tốt công tác thoát nước thì khi mưa lớn, biển vỗ sóng tràn vào thì nước và cát sẽ tràn khắp nơi, các bể chứa nước, công trình dưới mặt đất sẽ bị nước và cát tràn vào. Rồi câu chúc quen thuộc “thượng lộ bình an” đã được cụ thể bằng “hải lộ bình an''. Lần đầu nghe các chiến sĩ ở đảo chúc “hải lộ bình an'' khiến tôi hơi lạ một chút, sau đó ngẫm ra thật thú vị. Tôi nhận thấy nét văn hoá Trường Sa đang hiện rõ trong quân, dân Trường Sa ở giao tiếp, sinh hoạt văn hoá, văn nghệ, ở chế biến các món ăn.
Thời gian đến các đảo không nhiều nên các nhà báo đều khẩn trương tác nghiệp. Từ đảo trưởng, chính trị viên đảo, phó đảo trưởng đến các chiến sĩ vừa tiếp khách vừa trả lời phỏng vấn của nhà báo. Phía đầu giường của bộ đội Trường Sa thường treo ảnh vợ, ảnh con hoặc ảnh vợ chồng cùng con cái. Tại đảo Tiên Nữ, tôi để ý ảnh cặp uyên ương có tên đề ''Thắng Cảnh - Bích Ngân, 19-3-2006''. Nói là đề ý, bởi con số ngày tháng ''19-3'' ghi trên tấm ảnh có ý nghĩa đặc biệt đối với tôi, nó là ngày cưới của tôi. Hỏi ra, đây là ảnh của thượng uý Mai Văn Cảnh, chính trị viên của đảo, quê xã Đại Thắng, huyện Tiên Lãng và vợ là cô giáo Vũ Thị Bích Ngân, quê xã Tân Hưng, huyện Vĩnh Bảo, đang dạy học tại Trường THPT bán công Vĩnh Bảo, cùng TP Hải Phòng. Tôi giới thiệu mình cũng quê TP Hải Phòng, công tác ở Quảng Ninh và chỉ kịp hỏi Mai Văn Cảnh mấy câu, sau đó các đồng nghiệp đã “sáp vô'' phỏng vấn anh. Tôi không hình dung rõ được những người vợ có chồng ở Trường Sa nhớ tới chồng như thế nào. Có thể là, nghe bản tin dự báo thời tiết nói tới biển Đông là nhớ chồng ở vùng biển ngàn trùng ấy. Nhặt rau chuẩn bị nấu cơm, là nhớ chồng nói tới thèm rau. Nhìn hoa là nhớ tới hoa muống biển chồng kể... Đã yêu nhau mà xa cách thì cái gì cũng có thể xui khiến nỗi nhớ dâng trào. Một lần tâm sự với chúng tôi, thiếu uý Trần Quang Linh (tàu Trường Sa 20) kể có vợ là Đào Huệ cùng quê tỉnh Ninh Bình, hiện là giáo viên ở huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Chàng sĩ quan trẻ và cô giáo trẻ mới tổ chức lễ cưới tháng 12 - 2006. Thiếu uý Trần Quang Linh cho biết vợ chồng anh đã có ''tin vui'' - vợ đã có bầu. Vợ anh muốn, nếu sinh con trai thì đặt tên là Trần Đào Hải Đăng, còn nếu sinh con gái thì sẽ đặt tên là Trần Đào Tú Nguyệt. Và anh giải thích vì sao vợ anh lại muốn đặt tên con như thế. Câu chuyện đặt tên con của thiếu uý Trần Quang Linh khiến tôi có ý định viết một bài thơ có nhan đề ''Người lính biển kể về vợ dặn''. Bài thơ chưa trọn vẹn nên tôi chưa chép tặng Trần Quang Linh: ''Vợ dặn, đặt tên con gái là Nguyệt Tú, vầng trăng anh cùng em cùng yêu thương! Đặt tên con trai là Hải Đăng, tới đích con tàu hạnh phúc đôi ta/ Vợ dặn, nếu nhớ em anh hãy hát bài ca em thích/ Sáng em là hải âu/ Chiều em là mây hồng/ Tối em là ngôi sao/ Sóng vỗ mạn tàu là tình em tha thiết... ''.
Nói về thơ, tôi đã hỏi thượng tá Khổng Minh Hải, Phó Đoàn trưởng Đoàn Trường Sa về nhà thơ Trần Đăng Khoa khi đến đảo Sinh Tồn để viết bài thơ ''Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn”. Anh Hải còn kể nhiều về ''hoàn cảnh ra đời'' của những bài hát khi anh nhiều lần cùng các nhạc sĩ đi thực tế ở Trường Sa. Anh Lưu Minh, Chủ nhiệm Nhà văn hoá Hải quân nói với tôi, Trường Sa rất khơi gợi nên thơ, nên nhạc, anh Cảnh (Ngô Tiến Cảnh, cựu đại uý Hải quân, hiện công tác Hội Nhà báo tỉnh Quảng Ninh) lần đầu đến Trường Sa là có bài hát ngay. Ngay chuyến đi này, nhạc sĩ Phạm Nguyễn - Trưởng đoàn Văn công Hải quân đã có ngay một bài hát. Đến thiếu tướng Phan Khuê Tảo, Phó Tư lệnh Quân chủng, lúc nào cũng nghiêm trang, nói chuyện thì toàn kiểu khẩu lệnh, thế mà trong một đêm văn nghệ đã chơi đàn oóc-gan hai bản nhạc thật tài hoa. Đêm giao lưu văn nghệ tại đảo Trường Sa Lớn thật ấn tượng. Khi ca sĩ Phương Anh biết các chiến sĩ khó khăn lắm mới có được hoa cải để tặng mình trong đêm diễn, thay vì một bài hát vui đã giới thiệu, chị đã hát bài ''Mùa hoa cải”, bài hát kết thúc đêm giao lưu. Bài hát làm mọi người lặng đi bởi da diết nhớ thương. Để rồi ngay sau đó khi chia tay trong đêm, người trên tàu, người trên cầu cảng nghẹn ngào cùng tay vẫy: “Không xa đâu Trường Sa ơi. Không xa đâu Trường Sa ơi. Vẫn gần bên anh vì Trường Sa luôn bên em... ''.
Trường Sa ngày một gần hơn bởi cả nước vì Trường Sa, Trường Sa vì cả nước; gần hơn bởi ngày càng những chuyến tàu của ngư dân tới Trường Sa để khai thác hải sản. Hằng ngày, tiếng nói từ Hà Nội, trái tim của Tổ quốc vang trên Trường Sa qua Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình ViệtNam và mọi thông tin, liên lạc đã thuận lợi hơn. Trong bài nói chuyện với đoàn công tác tại đảo Trường Sa Lớn, thiếu tướng Phan Khuê Tảo cho biết ở Trường Sa ngày càng xanh hơn, đẹp hơn, đang trở thành làng quê và cho rằng, vài chục năm sau Trường Sa trở thành thành phố lớn. Hiện tất cả các điểm đảo có tivi, radio, trong đó 10 điểm đảo đã có điện mặt trời. Tôi nhớ, kết thúc bài nói chuyện, thiếu tướng Phan Khuê Tảo đã nêu tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa X) về Chiến lược biển đến năm 2020 là, phải phấn đấu để nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, góp phần giữ vững ổn định và phát triển đất nước.
Trường Sa không xa, Trường Sa trong ta, Trường Sa đang phát triển.