Kỳ hai: Từ địa đạo Vịnh Mốc tới Thành cổ Quảng Trị

Những đồng nghiệp của chúng tôi ở Báo Quảng Trị bảo rằng: Quảng Trị là một vùng đất mà ở đó, mỗi tấc đất, viên gạch... đều là chứng tích của một thời máu lửa! Và nếu đi thăm được hết các di tích lịch sử cách mạng đã được xếp hạng trên địa bàn cũng phải mất... hàng năm! “-Nhưng đã đến Quảng Trị thì ngoài hai nghĩa trang là Trường Sơn và Đường Chín, không thể không đến Thành cổ, không thể không đến địa đạo Vịnh Mốc”- Nhà báo Nguyễn Anh Tứ, Phó Tổng Biên tập Báo Quảng Trị, khuyên chúng tôi như vậy!

>>Kỳ một: Dâng hương ở ngã ba đồng lộc...

Kỳ hai: Từ địa đạo Vịnh Mốc tới Thành cổ Quảng Trị ảnh 1
Đoàn CB, PV Báo Quảng Ninh lên dâng hương tại Đài tưởng niệm ở Thành cổ Quảng Trị.

Địa đạo Vịnh Mốc nằm ở thôn Vịnh Mốc, xã Vĩnh Thạch, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Người hướng dẫn viên bảo rằng: Vĩnh Linh có tới trên 60 địa đạo lớn, nhỏ, trong đó Địa đạo Vịnh Mốc là làng hầm vững chắc nhất, tồn tại cho đến tận hôm nay. Địa đạo được đào từ năm 1965 đến 1968; gồm 3 tầng, có bậc lên xuống lượn xoắn ốc; trục chính của địa đạo dài hơn 2000m, nằm ở độ sâu 20-28m... Đã từng chui lò ở các hầm mỏ Quảng Ninh, thế nhưng tôi vẫn cảm thấy ngờm ngợp khi bước vào địa đạo, nhất là khi xung quanh tôi ngập trong bóng tối, thỉnh thoảng mới thấy le lói chút ánh sáng...

“- Dưới mưa bom, bão đạn, lại chỉ có đôi bàn tay không, mà xây dựng được cả một lâu đài dưới lòng đất thế này quả là phi thường; nhưng còn phi thường hơn khi sống bình thường được ở đây suốt nhiều năm! Chả trách những cựu chiến binh Mỹ khi đến đây tham quan đều... lắc đầu lè lưỡi!''- Một cô bạn đồng nghiệp đang dò dẫm phía sau tôi, vừa đi vừa lẩm bẩm. Điều đó khiến tôi nhớ tới đoàn khách du lịch nước ngoài vừa gặp ở phòng trưng bày truyền thống trước lúc xuống Địa đạo. Không biết trong số họ có ai là cựu chiến binh Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam không, nhưng tất cả đều cóvẻ rất chăm chú trước dòng chữ “Tồn tại hay không tồn tại?” đặt trang trọng trong phòng trưng bày. Hình như dòng chữ ấy và những bức ảnh, những di tích được trưng bày đã gây ấn tượng mạnh đối với họ! Cũng phải thôi, bởi ngay chính các bạn trẻ trong đoàn chúng tôi, những người sinh ra sau chiến tranh, còn thấy khó hình dung khi đứng trước di tích nhà hộ sinh trong Địa đạo. Ở đây, theo người hướng dẫn viên cho biết, chỉ riêng hai năm, 1967-1968, đã có tới 17 công dân chào đời trong tiếng bom gầm, đạn rú phía trên mặt đất...Tôi chợt nhớ tới câu nói của ai đó, rằng: Đến với địa đạo Vịnh Mốc cũng là đến với một “huyền thoại” trong cuộc sống đời thực. Sức mạnh ý chí và nghị lực của con người Việt Nam, của người dân Vịnh Mốc đã biến những điều không tưởng thành hiện thực sinh động... Điều đó thật chí lý! Tôi đã lên thăm chiến trường Điện Biên, được nghe kể về những đường ngầm mà bộ đội ta đào trong lòng đất theo chiến thuật đánh lấn để áp sát chỉ huy sở của địch trong kháng chiến chống Pháp, rồi đến Địa đạo Củ Chiv.v... Và hôm nay là Địa đạo Vịnh Mốc... Tất cả đã chứng tỏ sức mạnh phi thường của dân tộc ta, đúng như nhà thơ Dương Hương Ly đã viết: “Nơi hầm tối lại là nơi sáng nhất! Nơi con nhìn ra sức mạnh Việt Nam”...

Hướng dẫn viên (ngoài cùng bên phải) đang giới thiệu cho mọi người trong đoàn về di tích Địa đạo Vịnh Mốc.

 Hướng dẫn viên (ngoài cùng bên phải) đang giới thiệu cho mọi người trong đoàn về di tích Địa đạo Vịnh Mốc.

Nếu Địa đạo Vịnh Mốc là biểu tượng về sức sống bất diệt trước sức mạnh vũ khí huỷ diệt, nó dạy cho ta biết phải sống như thế nào, thì Thành cổ Quảng Trị lại là khúc bi tráng của một thời máu lửa; nó dạy cho ta biết cần phải chết như thế nào! Hay như nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã viết: “Những người chết không phải vì để trở thành anh hùng mà chính là để đằng sau họ những người khác được tiếp tục sống trong tự do và hoà bình, chết cho nhân loại sống còn và thức tỉnh...”. Dẫu đã được học, được đọc về những điều ấy, nhưng khi đặt chân đến Thành cổ, tôi vẫn cảm thấy một tâm trạng thật khó tả, nhất là khi nghe tiếng chuông, từng tiếng, từng tiếng một, thỉnh vào không gian yên tĩnh, trong lúc đoàn chúng tôi cúi đầu trước Đài tưởng niệm. Người ta bảo rằng Thành cổ Quảng Trị cũng là một nghĩa trang, như Nghĩa trang Trường Sơn hay Đường Chín, chỉ khác đây là Nghĩa trang không có những nấm mồ, không có những tấm bia ghi danh tên tuổi các liệt sĩ. Nơi đây, sau 81 ngày chiến đấu khốc liệt (từ 28-6 đến 16-9-1972), đã có hơn một vạn tư chiến sĩ ta vĩnh viễn nằm lại. Và như người hướng dẫn viên kể, thì hầu như mỗi khi đào đất để xây dựng một công trình nào đó tại Thành cổ, đều bắt gặp di hài của những người lính! Nói cách khác, ẩn dưới những vạt cỏ xanh tươi non, mơn mởn trong Thành cổ hay dưới dòng nước trong vắt của sông Thạch Hãn ngay sát kia, là hàng ngàn, hàng vạn linh hồn vẫn còn đó. Chính họ đã làm cho mảnh đất này trở thành “Đất thiêng”...

Trong số những cựu chiến binh của đoàn chúng tôi có nhiều người đã chiến đấu ở chiến trường miền Nam thời chống Mỹ. Đặc biệt, có anh Đàm Quang Thục, người từng có mặt tại Quảng Trị vào đúng thời kỳ khốc liệt ấy. Anh Thục cứ bần thần trước những bức ảnh chụp các chiến sĩ đang chiến đấu trong khói bom, đạn lửa tại Thành cổ treo ở phòng trưng bày. Hình như khi nhắc đến những địa danh, những phiên hiệu của các đơn vị bộ đội đã chiến đấu ở đây năm nào, người hướng dẫn viên đã làm rung lên trong anh hồi ức về quá khứ! Và tôi chợt hiểu vì sao khi chuẩn bị cho chuyến đi này, anh đã chọn bộ quân phục quân giải phóng, với chiếc mũ tai bèo... để mặc suốt hành trình! Anh bạn đồng nghiệp của chúng tôi ở Báo Quảng Trị bảo: Đến Thành cổ, nếu chỉ ngắm nhìn cảnh vật thì vẫn chưa cảm nhận hết được; phải nghe những câu chuyện sau từng viên gạch, từng trảng cỏ, từng nhịp sóng vỗ trên dòng sông Thạch Hãn... mới hiểu được chất thiêng của mảnh đất này! Nhìn vẻ xúc động của anh Thục, tôi lại nghĩ tới những câu thơ và cũng là tiếng lòng của một người lính, nhà báo, nhà thơ Trần Bá Dương: “Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ/ Đáy sông còn đó bạn tôi nằm/ Có tuổi đôimươi thành sóng nước/ Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm...”. Phải, chỉ có những người trong cuộc như Trần Bá Dương, hay như anh Đàm Quang Thục trong đoàn chúng tôi kia nữa, mới thực sự cảm nhận hết “chất thiêng” ấy của cỏ cây, sông nước nơi này!

Thắp nén nhang trên Đài tưởng niệm, tôi nguyện cầu cho linh hồn những người lính nằm lại “mãi mãi tuổi hai mươi”tại mảnh đất này được siêu thoát, trở thành bất tử, để chứng kiến sự hồi sinh của mảnh đất này, mảnh đất họ đã phải đổi bằng máu để gìn giữ vẹn nguyên cho thế hệ mai sau. Chợt nhớ trong một bài báo, một nhà sử học mà tôi không nhớ tên, đã nói rằng: Chính tại nơi đây, ta mới hiểu biết nhiều hơn về quá khứ. Và cũng chính tại nơi đây, giúp ta nhận ra chân giá trị của hiện tại và hình dung rõ ràng về tương lai...

Tôi càng thấy xúc động hơn vì hôm nay, 28-6, khi chúng tôi đứng đây, cũng chính là ngày mà 35 năm trước, khúc bi tráng81 ngày đêm tại Thành cổ Quảng Trị bắt đầu!

(Còn nữa)

Kỳ sau: Nghĩa trang Trường Sơn - Huyền thoại của những huyền thoại.

Cùng chuyên mục