Lương Mông - Thị tứ vùng cao

Hôm lên Ba Chẽ dự cuộc tiếp xúc cử tri, chúng tôi được đồng chí Phạm Lễ Chi, Phó trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội khoá XII của tỉnh, một cán bộ từng có hơn 20 năm gắn bó với mảnh đất Ba Chẽ, nhắc: “Các bạn nghỉ sớm để mai lên với bà con cho kịp giờ. Lâu lắm rồi, mình không có điều kiện quay lại Lương Mông, chắc bây giờ cuộc sống đã khá lắm rồi”.

Đồng chí kể: Nhiều năm trước, cán bộ huyện Ba Chẽ muốn lên được trung tâm xã Lương Mông phải đi bộ cả ngày, vượt hàng chục quả núi. Ngày nắng đi còn đỡ vất vả, không may hôm trời mưa thì phải vài ngày mới về tới cơ quan, vì mưa to, lũ lớn không thể qua được. Ngày ấy, tuy đời sống của đồng bào còn rất nghèo, nhưng luôn một lòng tin tưởng, đùm bọc, coi cán bộ như người thân trong gia đình. Còn bây giờ, nghe nhiều người gọi Lương Mông là “thị tứ chốn vùng cao”...

Lương Mông - Thị tứ vùng cao ảnh 1
Một góc chợ Lương Mông

Hơn 6 giờ hôm sau, trời rất lạnh, sương mù còn dày đặc, chúng tôi đã lên đường để kịp thời gian làm việc. Tuyến đường nhựa từ trung tâm huyện Ba Chẽ lên xã Lương Mông dài trên 50 cây số, uốn lượn như dải lụa vắt trên các triền núi; hai bên đường là những cánh rừng keo, bạch đàn, thông đang kỳ sinh trưởng. Chỉ tay về phía rừng cây, đồng chí Phạm Lễ Chi nói: “Trước đây, nơi này toàn là cỏ mọc, rất hiếm có loại cây họ gỗ sống được, bà con trong xã chỉ dành để chăn thả trâu, bò. Vậy mà bây giờ rừng đã phủ kín”. Gần 9 giờ chúng tôi có mặt tại trụ sở UBND xã thấy đã đông kín người. Khi biết ý định của chúng tôi muốn được tìm hiểu đời sống của bà con nơi đây, đồng chí Khúc Thanh Nghị, Chủ tịch UBND xã vui vẻ “Hôm nay là chợ phiên, các bạn đến đó là thấy rõ cuộc sống của người dân ngay thôi”. Từng đến nhiều phiên chợ vùng cao trong tỉnh, chúng tôi không khỏi ngạc nhiên về sự sầm uất của chợ phiên ở Lương Mông. Hàng hoá đa dạng được bố trí khá hợp lý trong không gian chợ rộng chừng vài trăm m2. Gặp một phụ nữ trẻ đang chọn mua đồ chơi cho con trai, chị cho biết: “Nhà em ở cách đây vài quả đồi. Trước đây đời sống còn khó khăn, trẻ con chẳng mấy khi được mua quà bánh, đồ chơi. Nhưng bây giờ trẻ em ở đây cũng chẳng thiếu thứ gì. Chồng em vừa gọi điện bảo  không cần mua nhiều bánh kẹo, vì ngày mai bản có tổ chức cho trẻ em vui chơi”. Quan sát những nam thanh nữ tú đi chợ, thấy rất nhiều người có điện thoại di động. Hỏi chuyện một đôi nam nữ là Triệu Văn Thắng và Triệu Tài Múi đang lựa mua chiếc đệm mút ở khu bán quần áo, chăn màn, hai bạn trẻ cho biết nhà ở bên Bắc Giang cách đây chừng hơn chục cây số: Chúng em tháng sau tổ chức làm đám cưới, nghe mấy đứa bạn ở cùng bản bảo muốn mua đồ cưới cứ sang đây vừa sẵn, giá cả lại phải chăng. Chúng em rất ưng ý chiếc đệm này, nhưng không biết có vừa với chiếc giường cưới không, nên điện thoại về nhà nhờ đo hộ”. Hơn 10 giờ, nắng bắt đầu gay gắt, phiên chợ cũng dần vãn người, chúng tôi tạt vào quán bia hơi ở cổng chợ. Chủ quán là một cô gái trẻ, sau khi rót bia mời khách, tâm sự: “Vợ chồng em cưới nhau được bố mẹ cho hơn 100 triệu đồng để mở quán bán tạp phẩm và bia. Mấy năm trước, đường sá đi lại khó khăn, hàng hoá trên này tương đối đắt, nên ít khách. Nhưng bây giờ đi lại thuận tiện, hàng hoá mang lên nhiều, giá cả ở đây không còn chênh lệch nhiều so với dưới phố huyện, nên bán chạy hơn”. Chúng tôi mua gói thuốc lá và uống 2 cốc bia, giá tiền cũng ngang với dưới thị trấn Ba Chẽ. Chỉ vào một thanh niên đang dỡ các thùng hàng do đại lý dưới huyện gửi lên, cô chủ quán giới thiệu: “Đây là chồng em, trước kia làm công nhân khai thác than ở TX Cẩm Phả, thu nhập cũng khá, nhưng xa nhà. Sau khi cưới nhau, vợ chồng em bàn ở nhà mở cửa hàng này, thu nhập cũng không kém so với trước”. Thấy Bưu điện văn hoá xã đông người, chúng tôi rẽ vào. Cô nhân viên bưu điện đang hướng dẫn cho khách vào mạng để chát, khoe với chúng tôi “Từ ngày có Internet, cứ vào ngày chợ phiên hoặc ngày nghỉ, nhiều người đến đây để tìm thông tin trên mạng lắm. Điện thoại hiện ít người gọi, vì hầu như nhà nào cũng có rồi...”.

Lương Mông - Thị tứ vùng cao ảnh 2
Những ngôi nhà cao tầng được xây dựng ngày càng nhiều ở Lương Mông.

Đến UBND xã Lương Mông gặp Bí thư Đảng uỷ xã Nguyễn Thái Phong đang vào mạng đọc báo, anh cho biết: “Từ khi có mạng Internet, chúng tôi học hỏi được rất nhiều điều bổ ích để áp dụng vào phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương”. Anh khoe: Hiện Lương Mông đã có đường nhựa đến trung tâm xã, gần 100% các bản có điện lưới quốc gia, sóng điện thoại di động, mạng internet được phủ đến trung tâm xã. Là xã xa nhất huyện, nhưng Lương Mông có nhiều thế mạnh để phát triển nông - lâm nghiệp và chăn nuôi đại gia súc do có đồng cỏ rộng. Trong thực hiện các mô hình phát triển kinh tế, cán bộ, đảng viên luôn phát huy vai trò tiên phong, sau đó nhân dân làm theo. Như đồng chí Bí thư Đảng uỷ xã đã nhận gần 4 ha đất rừng để trồng cây ăn quả, trồng cây quế. Đồng chí Chủ tịch UBND xã nhận vài ha rừng để phát triển mô hình kinh tế trang trại tổng hợp... Đến nay đã có nhiều người dân tích cực nhận đất, nhận rừng để phát triển kinh tế. Thời gian gần đây, qua tìm hiểu, lãnh đạo xã thấy đất đai, khí hậu ở địa phương khá phù hợp với việc trồng cây Thanh Long, thế là bàn nhau mua một số gốc cây về trồng. Đến nay, toàn xã đã trồng được hàng trăm gốc Thanh Long rất sai quả, chất lượng không kém gì các tỉnh phía Nam. Xã đang tính toán đưa cây này thành một trong những loại cây làm giàu cho nhân dân địa phương. Chủ tịch UBND xã Khúc Thanh Nghị còn cho hay: “Chúng tôi đang tính toán để đưa một số sản phẩm truyền thống đi quảng bá một số nơi. Trước hết, chúng tôi chủ trương lập trang Web để giới thiệu cây bao, một loại cây rất dễ trồng, lại có công dụng chữa bệnh rất tốt”. Từ xã diện 135, nhờ biết phát huy nội lực, tranh thủ các nguồn lực, hiện xã đã có hàng trăm ha rừng trồng chuẩn bị cho thu hoạch; chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển; các công trình phục vụ dân sinh, như nhà văn hoá, trường học đã cơ bản được chuẩn hoá. Lương Mông là xã đầu tiên của huyện được công nhận đạt chuẩn giáo dục THCS từ năm 2004. Năm 2006, xã đã được Chính phủ đưa ra khỏi danh sách xã đặc biệt khó khăn. Hiện 2/3 số hộ trong xã có điện thoại bàn, có xe máy, gần chục hộ mua được ô tô và xe công nông; số hộ nghèo chỉ còn 9,32%, không còn hộ đói, số nhà cao tầng, nhà mái bằng được xây dựng ngày càng nhiều.

Cùng chuyên mục