Mẹ Thảo!

Cuối cùng, chúng tôi cũng tìm gặp được bà trong căn nhà nhỏ nằm cheo leo trên một sườn dốc thuộc tổ 33, khu 3, phường Cao Thắng, TP Hạ Long. Câu chuyện giữa bà và chúng tôi bị ngắt quãng nhiều lần bởi tiếng máy cưa rít lên chói tai ở một xưởng mộc gần nhà, bởi tiếng ú ớ của cô con gái nuôi dị tật nằm gian kế bên, ngắt quãng trong nghẹn ngào tiếng nấc cùng những giọt nước mắt lau vội trên gò má nhăn nheo…

Hạnh phúc lớn nhất là làm mẹ

Hồi ấy, nhiều người trong Công ty Công nghệ phẩm thuộc Ty Thương nghiệp Quảng Ninh ngầm ghen tị với cặp vợ chồng Nỷ - Thảo. Anh là cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc, chị trẻ trung, xinh đẹp, nết na. Buồn một nỗi, lấy nhau đã hơn chục năm rồi mà trời không chịu ban cho họ một đứa con. Khát khao được làm thiên chức người mẹ, nhiều lần Thảo nhờ cậy mấy người bạn khoa sản, bệnh viện tỉnh xin cho một đứa con về nuôi.

Ngày 12-8-1973, sau đợt đi công tác dài ngày, trở về nhà, Thảo nhận được một đứa trẻ bọc trong chiếc quần cũ kỹ. Mẹ bảo: “Các chị trên bệnh viện mang về cho con đấy. Nó được 4 ngày tuổi rồi”. Như vớ được vàng, Thảo mừng rơi nước mắt. Cô tắm giặt, thay tã, sắm sanh quần áo, làm khai sinh cho con. Tên đầy đủ của bé là Dương Thị Liễu.

Được sưởi ấm trong tình yêu thương của mẹ, bé Liễu lớn nhanh và xinh xắn. Nước da trắng hồng, khoé miệng xinh xinh hay cười, rất thích hóng chuyện, khiến mẹ Thảo không muốn rời mắt ngắm nhìn thiên thần bé bỏng của mình.
Được hơn 6 tháng tuổi, bé Liễu bắt đầu có các triệu chứng lạ: Mắt hay ngước nhìn lên phía trên, đầu phình to ra, trong khi tay chân teo lại. Ban đầu, nhiều người cho là cháu bị suy dinh dưỡng. Thảo tất tả tìm mua sữa, thức ăn có nhiều chất dinh dưỡng nấu cháo cho con, song tình trạng không cải thiện là bao. Cho đến một lần, nhân một giáo sư ngành y từ Hà Nội về thăm bệnh cho Liễu, kết luận: Cháu bị úng thuỷ não, một chứng bệnh nan y, y học hiện nay đang bó tay, cháu sẽ sống không được bao lâu nữa, Thảo mới thực sự cảm thấy sốc và suy sụp ghê gớm.

Bệnh của Liễu phát triển rất nhanh. Từ một “thiên thần bé nhỏ”, em trở thành một người dị dạng: Đầu phình to, chân tay nhỏ lại, co quắp, không vận động được, kèm chứng co giật thường xuyên. Thương con, Thảo vẫn tìm đến bệnh viện, thăm khám, mua thuốc (chủ yếu là thuốc chữa chứng động kinh) mặc dù biết rằng, bệnh của con không thể chữa lành.

Năm 1976, sau một năm đất nước thống nhất, ông Nỷ quyết định chuyển gia đình về quê trong miền Nam để sinh sống. Trước khi đi, ông yêu cầu vợ mình đem bé Dương Liễu trả lại cho bệnh viện. 20 năm xa quê, nay trở về, ông không muốn mang theo đứa con nuôi tàn tật.

Bà Thảo không đồng ý theo cách giải quyết của ông. Dù tàn tật, là gánh nặng trong gia đình, bé Liễu đã là một thành viên gắn bó với cuộc sống của bà. Dù không phải là đứa con mang nặng, đẻ đau, nhưng bà không thể nhẫn tâm để sinh linh bé bỏng kia ở lại, thành gánh nặng cho xã hội hay một gia đình nào khác. Bà không lý giải nhiều về điều này. Đó là lương tâm, trách nhiệm, tình người, là bản năng của tình mẫu tử. Ông Nỷ về quê một mình.

Hai năm sau (1978), ông Nỷ trở lại, lần nữa thuyết phục bà. Ông đặt bà giữa hai lựa chọn: Hoặc là vào Nam với ông, bỏ bé Liễu ở lại, hoặc là ở lại với Liễu, ông về Nam, 2 năm sau, ông sẽ xây dựng gia đình với người khác. Không còn cách nào, bà chấp nhận phương án ở lại với con.

Tôi cứ day dứt mãi về câu hỏi nguyên nhân nào lại khiến bà chấp nhận số phận và hành động như vậy? Tại sao bà lại chấp nhận từ bỏ người chồng với nhiều hứa hẹn hạnh phúc tốt đẹp chờ đợi ở phía trước, ở lại với bé Liễu, một đứa trẻ không phải máu mủ ruột rà, dị tật, để rồi, 36 năm trời đằng đẵng cô đơn, lầm lũi chăm sóc con; 36 năm trời, không một đêm yên giấc. 36 năm trời, ngày nào cũng chỉ quanh quẩn trong bán kính vài cây số, từ bỏ mọi thú vui, chấp nhận sự phai tàn theo thời gian của người phụ nữ một thời xuân sắc, đổi lại duy nhất một từ: “Mẹ”. Nhưng 36 năm rồi chỉ một từ “Mẹ” ấy thôi, Liễu chưa một lần gọi thành tiếng. “Cháu phải ở địa vị của cô, phải thật sự là mẹ thì sẽ hiểu” - Bà Thảo nhẹ nhàng giải thích.

Ước nguyện

Công văn số 106, ngày 12-9-2008 của Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh gửi bà Thảo nêu rõ: Chị Dương Thị Liễu là đối tượng được nuôi dưỡng tập trung tại Trung tâm theo Quyết định số 243/QĐ-LĐTBXH ngày 1-4-1998 của Sở LĐ-TB&XH. Việc chị Liễu được nuôi dưỡng tại gia đình đồng thời được hưởng trợ cấp 300.000đồng/tháng là sai với quy định hiện hành. Chị Liễu chỉ được hưởng chế độ này khi được đưa vào nuôi dưỡng tập trung ở Trung tâm tại Uông Bí. Từ tháng 8-2008, mẹ con bà Thảo chính thức bị cắt số tiền trợ cấp nói trên.

Tâm sự với chúng tôi, bà Thảo cho biết, hiện nay, bệnh tình của Liễu đang tăng lên do thiếu tiền mua thuốc. Nếu đưa cô vào trung tâm, ai sẽ là người thay bà chăm sóc cô với một chế độ đặc biệt: Ăn một bữa cơm vô cùng khó khăn vì không thể nhai được. Thời gian mỗi bữa kéo dài từ 1,5 đến 2 tiếng đồng hồ. Mỗi lần đi vệ sinh cũng trên dưới 1 tiếng, chưa kể đến việc xử lý những diễn biến oái oăm của mỗi cơn co giật mà chỉ người quen mới làm được. Ngoài nỗi lo của một người mẹ trước bệnh tật của con, bà còn một ước nguyện là dành phần cuối cuộc đời được ở bên con. Chăm sóc cho Liễu là hạnh phúc lớn nhất của bà. Tâm nguyện trên của bà Thảo và quyết định giữ Liễu ở lại bên bà, âu cũng là sự phù hợp với đạo đức và đạo lý làm mẹ. Xin được có một đề nghị lãnh đạo Trung tâm Bảo trợ xã hội, lãnh đạo Sở LĐ-TB&XH xem xét và tiếp tục trợ cấp số tiền trên cho mẹ con bà Thảo, đúng như tinh thần nêu trong công văn “Mong có sự cộng tác của bà cùng toàn thể gia đình để chị Dương Thị Liễu có cuộc sống tốt đẹp’’.

Cùng chuyên mục