Nâng cao chất lượng giáo dục học sinh dân tộc thiểu số: Nỗ lực rút ngắn khoảng cách

Trên địa bàn tỉnh hiện có 29 dân tộc anh em cùng sinh sống. Các dân tộc thiểu số được phân bố ở hầu hết 14 huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh, tập trung đông nhất là Bình Liêu (chiếm 95% dân số toàn huyện), Ba Chẽ (79,61%), Tiên Yên (49%), Hoành Bồ, Đầm Hà, Hải Hà...

Ở những nơi này, ngoài cái nghèo, cái khó do điều kiện địa hình mang lại, thì việc bà con không nói được hoặc không nói thành thạo tiếng Việt đã trở thành “rào cản” rất lớn trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, trình độ dân trí. Để tháo gỡ khó khăn ấy, những năm qua tỉnh, ngành GD-ĐT đã dành sự quan tâm đáng kể về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên; nỗ lực đưa tiếng Việt đến với trẻ em dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa qua các chương trình giáo dục, các hoạt động ngoại khóa.

Nâng cao chất lượng giáo dục học sinh dân tộc thiểu số: Nỗ lực rút ngắn khoảng cách ảnh 1
Nhờ sự quan tâm của T.Ư và của tỉnh, học sinh dân tộc thiểu số xã miền núi Hải Sơn (TP Móng Cái) đã được học tập trong điều kiện tốt hơn.

Hội thi đặc biệt

Tiếng Việt là môn học có vai trò đặc biệt quan trọng, là phương tiện chủ yếu để học sinh tiếp thu kiến thức. Vì vậy, dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số là vấn đề nan giải trong công tác giáo dục vùng cao, nhất là ở bậc học đầu tiên. Theo đánh giá của Bộ GD-ĐT, chất lượng dạy và học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số trong nhà trường ở các địa phương trong cả nước còn nhiều hạn chế, hiệu quả thấp, dẫn đến việc tiếp thu kiến thức, chất lượng học tập của các em giảm sút, thấp kém. Tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số yếu tiếng Việt, không đáp ứng việc tiếp thu kiến thức trên lớp học ở bậc tiểu học ở nhiều địa phương là từ 10-12%. Với đặc thù của tỉnh miền núi, biên giới, Quảng Ninh cũng không nằm ngoài những khó khăn ấy. Để giải “bài toán” này, năm học 2009-2010, Phòng GD Tiểu học (Sở GD-ĐT) đã có sáng kiến tổ chức Hội thi “Kể chuyện và đọc diễn cảm” cho học sinh dân tộc thiểu số cấp tiểu học trong toàn tỉnh. Cuộc thi đã mang lại “thương hiệu” cho ngành GD-ĐT tỉnh; được Bộ GD-ĐT phát triển thành Hội thi “Tiếng Việt của chúng em” và chỉ đạo tổ chức rộng rãi ở khắp các tỉnh, thành trong cả nước bắt đầu từ năm học 2010-2011 này.

Hội thi “Tiếng Việt của chúng em” năm nay vừa được Sở GD-ĐT tổ chức tại huyện Hải Hà với sự tham gia của 40 thí sinh đến từ các trường, điểm trường vùng sâu, vùng xa của 6 huyện miền núi trong tỉnh (Hoành Bồ, Ba Chẽ, Bình Liêu, Tiên Yên, Đầm Hà và Hải Hà). Mặc dù diễn ra vào ngày mưa phùn, se lạnh, nhưng không khí tại Hội trường UBND huyện Hải Hà hôm ấy vẫn “nóng” bởi sự háo hức của các thí sinh và các cổ động viên nhí đến từ các trường tiểu học trên địa bàn huyện. Khác với hội thi của năm trước, năm nay ngoài phần thi màn chào hỏi của các đội, đọc diễn cảm và kể chuyện đạo đức của từng thí sinh, các thí sinh phải dự thi thêm phần thi viết chữ đẹp.

Hội thi “Tiếng Việt của chúng em” dành cho học sinh dân tộc thiểu số cấp tiểu học được tổ chức từ cấp trường, đến cấp huyện, rồi chọn đội tuyển để tham gia cấp tỉnh. Đồng chí Lê Đình Hưng, Trưởng Phòng GD Tiểu học (Sở GD-ĐT) khẳng định: Song song với việc tổ chức hội thi này, hàng năm, ngành GD-ĐT tỉnh còn triển khai rất nhiều phương án gắn với các chương trình dự án giáo dục khác theo sự chỉ đạo của Bộ GD-ĐT, nhằm mục đích tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số, như: Chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo trước tuổi đến trường (do Vụ GD Mầm non chủ trì); dạy tiếng Việt trên cơ sở tiếng mẹ đẻ trong chương trình song ngữ (Tổ chức UNICEF); dạy học tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số ở lớp 1 (dự án PEDC); dạy học lớp 1 cho học sinh dân tộc thiểu số chưa biết nói tiếng Việt...

“Nâng bước” trẻ đến trường

So với năm 2005 bắt đầu thực hiện dự án, đến năm 2010 chất lượng giáo dục của 4 huyện đã có tiến bộ rõ rệt: Tỷ lệ học sinh đến tuổi đi học đạt 99,5%, tăng 6,5%; học sinh bỏ học còn 0,2%, giảm 3,2%; học sinh đạt chuẩn kiến thức kỹ năng lên lớp đạt 98,86%, tăng 5,5%; học sinh 11 tuổi hoàn thành chương trình tiểu học đạt 99,3%, tăng 4,8%; 100% xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học, tăng 13 xã.

Ngoài việc nỗ lực đưa tiếng Việt đến với học sinh dân tộc thiểu số bằng các chương trình giáo dục, các hoạt động ngoại khóa như đã nêu trên, thời gian qua, tỉnh, ngành GD-ĐT còn đặc biệt quan tâm đến việc đầu tư cơ sở vật chất, chuẩn hóa đội ngũ giáo viên, đổi mới phương pháp giảng dạy... để nâng cao chất lượng dạy và học, thu hút học sinh đến lớp, duy trì ổn định sỹ số. Đầu tiên phải kể đến quyết tâm của tỉnh trong việc hoàn thành mục tiêu Đề án “Kiên cố hóa trường lớp và xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia” trước kế hoạch của Chính phủ 2 năm. Đề án phần lớn tập trung đầu tư cho các trường, điểm trường miền núi, vùng sâu, vùng xa của tỉnh. Năm 2010, toàn tỉnh đã xây dựng 374 công trình (1.011 phòng học, 294 phòng công vụ cho giáo viên), tổng mức đầu tư (theo quyết định) là 657 tỷ đồng. Trong đó, cấp mầm non: 247 công trình, 516 phòng học và 101 phòng công vụ giáo viên; cấp tiểu học: 83 công trình, 352 phòng học, 81 phòng công vụ giáo viên; cấp THCS: 44 công trình, 143 phòng học, 113 phòng công vụ giáo viên.

Đóng góp vào việc cải thiện diện mạo giáo dục vùng dân tộc thiểu số còn phải kể đến Dự án Giáo dục tiểu học vùng khó (PEDC) do Bộ GD-ĐT quản lý. Đây là dự án lớn nhất Việt Nam, có tổng vốn 247 triệu USD (hơn 4.000 tỷ VND) từ chương trình hợp tác của Canada, Na Uy, Australia, Anh và vốn vay của Ngân hàng Thế giới, vốn đối ứng của Chính phủ. Quảng Ninh là 1 trong 40 tỉnh, thành được hưởng hỗ trợ từ Dự án này. Dự án bao gồm rất nhiều nội dung, trong đó quan trọng nhất là hỗ trợ các tỉnh xây dựng các điểm trường tiểu học ở những xã vùng sâu, vùng xa, nhằm tạo điều kiện tốt nhất để trẻ em những nơi này được đến trường như mọi trẻ em nơi khác. Toàn tỉnh có 4 huyện: Ba Chẽ, Tiên Yên, Bình Liêu, Móng Cái được Bộ GD-ĐT phê duyệt cấp kinh phí triển khai. Theo báo cáo của Ban điều hành dự án tỉnh, trong 6 năm triển khai dự án đã có 233/254 điểm trường được đầu tư; 48/48 trường của các huyện được đầu tư để xây mới hoặc cải tạo với tổng trị giá xây lắp và sửa chữa khoảng 115 tỷ đồng. Mỗi điểm trường có từ 3-4 phòng học, phòng giáo viên, nhà vệ sinh, bể nước theo đúng tiêu chuẩn và mẫu thiết kế của dự án. Các điểm trường còn được trang bị bàn, ghế, bảng chống loá, điện thắp sáng, quạt mát. Thực hiện các nội dung khác của dự án, tỉnh đã tổ chức tập huấn cho hàng trăm lượt cán bộ, giáo viên tiểu học về chương trình SGK mới; đổi mới phương pháp quản lý, giảng dạy; vận động cộng đồng tham gia giáo dục. Trên cơ sở đó, các trường triển khai đến tận các thôn, bản. Đến nay, các thôn, bản đều có kế hoạch tham gia và phối hợp với các thầy, cô giáo giáo dục học sinh; 100% học sinh ở những nơi này đã có góc học tập trong nhà đủ ánh sáng và yên tĩnh; các bậc phụ huynh chủ động tăng cường nói tiếng Việt và dạy tiếng Việt cho các em tại nhà. Với việc triển khai dự án đã góp phần nâng cao năng lực xây dựng kế hoạch và quản lý chỉ đạo đạt mức chất lượng tối thiểu của cán bộ quản lý các phòng GD-ĐT, hiệu trưởng các trường; nâng cao trình độ văn hóa và chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên; chất lượng học tập của học sinh đều nâng lên; làm thay đổi bộ mặt trường, lớp của các điểm trường vùng sâu, vùng xa; giúp các điểm trường và nhà trường đạt mức chất lượng tối thiểu về cơ sở vật chất. Bên cạnh việc tranh thủ nguồn lực của T.Ư, của tỉnh để đầu tư cơ sở vật chất, ngành GD-ĐT tỉnh đã đẩy mạnh việc quan tâm duy trì sĩ số học sinh; chú trọng đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng học sinh và đặc thù của từng vùng, miền; giao quyền chủ động cho địa phương trong việc xây dựng kế hoạch thời gian học tập và bố trí biên chế lớp học; tiếp tục tăng cường chỉ đạo thực hiện như mô hình các lớp nội trú dân nuôi cho học sinh THCS; củng cố và phát triển hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện, cấp tỉnh. 

Cùng chuyên mục