Nghiệp “chã”

“Chã” là nghiệp biển - là từ riêng để gọi ngư dân sinh sống bằng nghề chài lưới trên Vịnh Hạ Long xuất phát từ cách đánh lưới phổ biến trước kia của họ: Chã cào (hay còn gọi là giã cào).

Toàn cảnh chợ sớm Cột 5.
Toàn cảnh chợ sớm Cột 5.
BẾN CÁ CỘT 5

Đi liền với xóm chã Cột 5, phường Hồng Hà (TP Hạ Long) là một bến (chợ) cá chỉ họp từ 5-7 giờ sáng. Mới 4 giờ, trời tang tảng sáng, nhưng chợ đã nhộn nhịp lắm. Vài chiếc thuyền no cá đã về bến đỗ, cạnh đó, những người phụ nữ của biển đang phân loại hải sản: Những con tôm, con ghẹ còn tươi rói, những con nhạnh biển vẫn còn ngoe nguẩy đuôi…

Người ta nói “Chỉ cần nhìn bến cá Cột 5 bán đồ hải sản gì vào buổi sáng là biết cả ngày hôm ấy các nhà hàng Bãi Cháy, Hòn Gai cho khách ăn gì. Có thể biết con nước lớn, nước ròng, mùa cá đàn, mùa tôm, ốc, mực cũng từ đây”. Đây như một phiên chợ đầu mối, nơi dân chã sau một đêm lao động cật lực giong thuyền về bến, trao tay lái cho vợ, rồi nằm khểnh ăn bát cơm, hút thuốc lào vặt, ngủ gật ngủ gù trên mũi thuyền trong ánh bình minh đang lên. Cứ thế chã nghiệp - chồng ra khơi đánh bắt, vợ ở nhà chờ đón và bán hàng ngay trên thuyền neo ở bến.

Hải sản ở đây rất phong phú, như tôm, cua, cá, ghẹ, tu hài, sò, hàu, hà... được bán chủ yếu cho khách đi buôn và người dân quanh vùng. Người dân TP Hạ Long thích đến chợ này, vì ở đây, hải sản rẻ hơn các chợ khác trong thành phố, lại vừa được kéo ở biển khơi về vẫn còn tươi rói. Nhiều bà nội trợ tranh thủ ghé chợ mua thức ăn sau giờ tập thể dục buổi sáng hoặc trước giờ đi làm. Theo họ, do cuộc sống bận rộn, thì đây là cách tiết kiệm thời gian cho việc chợ búa, để yên tâm với ngổn ngang công việc khác trong ngày. Có lẽ, đi chợ sớm Cột 5 để mua được những con tôm, con cá còn tươi nguyên vừa được đánh bắt, giá lại rẻ hơn chợ khác, để rồi sau đó họ lao vào một ngày tất bật, tối về nấu cho chồng con bữa ăn bằng chính gia vị của biển khơi mặn mòi mới mua ở buổi chợ sớm là điều mà các bà nội chợ rất thích. Trước đây, chợ hải sản Cột 5 chỉ bán đồ của biển, nhưng một năm lại đây để đáp ứng nhu cầu của người nội trợ, phía trên vỉa hè của chợ cung cấp hầu như không thiếu các loại thực phẩm thiết yếu: Rau, củ quả, thịt gà, thịt lợn, thịt bò và đồ ăn sáng... Ghé chợ sớm Cột 5 đã trở thành thói quen đón chờ một ngày mới sôi động của nhiều người dân nơi đây. Tuy vậy, ít ai biết để có những con cá tươi nguyên đem về phục vụ người mua, dân chã nơi đây cũng lắm nỗi niềm.

Người phụ nữ này nhanh chóng phân loại cá, tôm khi thuyền nhà về bến.
Người phụ nữ này nhanh chóng phân loại cá, tôm khi thuyền nhà về bến.
RÁO MỒ HÔI, CẠN ĐỒNG TIỀN

70% dân chã Cột 5 là ở các tỉnh khác về ngụ cư trên Vịnh, còn khoảng 30% là dân trong tỉnh. Có những người ở nơi khác đến, nhưng đã sống hơn ba đời trên vùng Vịnh này.

Bà Gái năm nay 70 tuổi, làm nghề chèo thuyền ở bến cá Cột 5, chở chúng tôi trên chiếc thuyền nhỏ tới thăm các nhà bè. Ẩn trong làn da nắng gió là sự dẻo dai của tuổi già. Khua đôi mái chèo nhẹ tênh lướt trên sóng nước, bà kể cho chúng tôi nghe: “Chợ cá này bắt đầu họp từ những năm 90 của thế kỷ trước. Còn trước nữa, các thuyền đi đánh bắt về vào bến đổ hàng cho người buôn, sau đó lại lênh đênh khơi xa. Đến khoảng năm 2000, họ mới tụ tập về gần bờ dựng nhà bè để tiện cho cuộc sống sinh hoạt và buôn bán. Từ đó bến cá ngày càng nhộn nhịp. Gần bờ, những lúc trời bão gió cũng yên tâm hơn, nhưng dạo này họ cũng đuổi riết lắm” (ý bà nói “họ” là các cơ quan chức năng). “Thế họ đuổi đi đâu hả bà?”, “Nghe đâu họ chuyển chúng tôi ra 7 điểm neo đậu là Ba Hang, Hoa Cương, Cửa Vạn, Ba Hầm, Cống Tầu, Vông Viêng, Cống Đầm”. Tiếng vỗ nước của mái chèo đập nhẹ vào mạn thuyền ì oạp, bà nhìn xa xăm: “Vợ chồng tôi gắn bó với sông nước cả đời rồi, nhà tôi ở mạn Hùng Thắng, có đứa con gái duy nhất cũng được sinh ra trên biển. Giờ nó lấy chồng, hai vợ chồng cũng dựng được cái nhà bè nho nhỏ”. Bà chỉ tay ra phía xa nơi có “căn nhà” bè màu xanh, nhỏ bé, chênh vênh một góc, bảo: “Nhà tôi đấy. Khi còn khoẻ, vợ chồng tôi cũng đi đánh lưới như các hộ gia đình ở đây. Nhưng giờ yếu rồi, không dám đi xa, tôi chỉ quanh quẩn đưa đón mọi người lên bến, xuống thuyền, kiếm được dăm ba chục mỗi ngày. Còn ông nhà tôi chèo thuyền bán than tổ ong cho các hộ nhà bè, thêm thắt vào cuộc sống hàng ngày...”. Tới khu vực có khoảng chục nhà bè liền kề nhau, lũ trẻ cả trai lẫn gái, gầy gò, đen đúa, nhưng trông rất khoẻ mạnh đang đùa nghịch dưới biển, tôi bảo: “Bà cứ đi chở khách, lát nữa quay lại đón chúng cháu”.

Chúng tôi lên căn nhà nhỏ của vợ chồng anh Quảng - chị Duyên đã ba đời cư ngụ trên vùng sông nước này. Gọi là nhà, chứ thực ra chỉ là lều bè được cấu tạo bằng xốp nổi trên mặt nước. “Bè chỉ tránh được mưa, nắng, gió, chứ bão thì cũng gay” - Anh Quảng đang cùng 2 cô con gái, đứa lớn 13 tuổi, đứa bé 8 tuổi, ngụp lặn quanh bè, ngoi lên nói chuyện với chúng tôi. Cô con gái út của anh chị mới 4 tuổi, đang quanh quẩn bên mẹ nấu cơm, chuẩn bị cho bữa ăn tối để anh Quảng ra khơi đánh lưới lúc 19 giờ tới 4 giờ hôm sau mới về. Mỗi nhà bè ở đây chỉ khoảng 20-30m2, nhưng được thiết kế và sắp xếp khá gọn gàng. Nhà bè của anh chị được chia làm 3 gian, phòng thờ ở chính giữa, kế bên phải là phòng ngủ, bên trái là bếp và khu phụ. 4 mẹ con chị Duyên ngủ tráo đầu đuôi trên chiếc giường xốp chưa đầy 1m2, còn anh Quảng ngủ dưới thuyền - tài sản duy nhất có giá trị và cũng là công cụ kiếm cơm của cả gia đình. Tôi ngắm căn nhà nhỏ bé nhưng gọn gàng, xinh xắn của gia đình, nhưng ngay cả một chiếc ti vi hay đài để theo dõi dự báo thời tiết cũng không có. Anh Quảng bảo: “Ở đây nhà nào cũng giống nhau “màn trời, chiếu xốp”. Dự báo thời tiết á? Ngẩng lên có trời, ngó xuống có biển rồi”. “Vậy mấy đứa con anh có đứa nào được đi học không?”. “Cô ơi, chúng tôi kiếm được bữa nào ăn bữa đấy, lấy tiền đâu ra mà cho chúng đi học. Con bé này 13 tuổi rồi (chỉ vào đứa lớn từ nãy giờ cứ chăm chú nhìn chúng tôi đầy lạ lẫm) mà có biết cầm bút đâu. Cô tính, mỗi chuyến ra khơi, trừ chi phí hết một triệu mốt tiền ăn uống, mua sắm lưới cụ, xăng dầu; mỗi ngày được khoảng 200-300.000 đồng, hiếm lắm ngày nào đánh được nhiều tôm, cá thì được khoảng 500.000 đồng. Có dư ra một ít thì cũng để dành cho những ngày gió bão không ra khơi được, nếu bão một tuần là rỗng bụng. Nhà tôi ba đời lênh đênh trên biển rồi, ước mơ mua được mảnh đất xây nhà chẳng biết đến đời thứ bao nhiêu mới thành hiện thực”.

Rời nhà anh chị, chúng tôi sang nhà kề bên là chiếc thuyền của vợ chồng anh chị Vinh - Xuân quê ở Thái Bình. Anh chị đón chúng tôi với sự niềm nở, chất phác của người vùng biển. Miệng nói, mắt cười, tay thoăn thoắt mắc lưỡi câu vào cước, anh Vinh cho biết: “7 giờ tối nay, vợ chồng tôi cùng cháu nhỏ (4 tuổi) ra khơi câu cá, nên phải mắc cho xong chỗ lưỡi này”. Đầy thúng cước được anh ngồi mắc lưỡi chỉ trong một buổi chiều là xong. Chị Xuân chào chúng tôi rồi tiếp tục công việc chuẩn bị bữa cơm chiều. Anh Vinh tiếp tục câu chuyện: “Mùa hè là mùa đi câu, còn từ tháng 9 trở đi là mùa đánh lưới. Trời lạnh, cá lặn sâu hơn, nên phải đánh lưới mới bắt được. Lúc nào rảnh, các cô có thích, chúng tôi cho đi một chuyến”. Không có “nhà” như các hộ bên, anh chị chỉ có chiếc thuyền nhỏ vừa để ở, vừa đi câu. “Mưa to, gió lớn đã có mấy chiếc bạt che rồi” - Anh Vinh chỉ tay lên bốn góc của chiếc thuyền, bạt đã được kéo lên, chỉ khi mưa gió mới buông xuống. Tôi hỏi anh có định cho cháu nhỏ đi học không, anh ngập ngừng một lúc: “Bây giờ khó khăn như vậy thì cứ đến đâu rồi tính đến đó. Nghề của chúng tôi, ráo mồ hôi là cạn đồng tiền...”.

Một chiếc thuyền tạp hoá di động, bán rau, mắm, muối, gạo... cập sát vào thuyền nhà anh chị. Chị Xuân lấy cái xô đưa cho người bán, bảo đong cho 5kg gạo. Xóm chã mua bán đều có thuyền phục vụ tận nơi, nên ít khi có việc phải lên bờ.

Tiếng nhảy nước ùm ụp của lũ trẻ khiến chúng tôi chú ý. Mấy người phụ nữ tụ họp lúc rảnh rỗi í ới gọi con: “Trèo lên, xếp hàng để cô chụp ảnh cho”. Nghịch ngợm là thế, nhưng tôi phải gọi mấy lần chúng mới dám tiến lại, nhảy lên chiếc phao xốp gần đấy ngồi xếp vòng cho tôi chụp ảnh. Với lũ trẻ, dường như người đất liền xa lạ lắm, bờ gần đấy, nhưng trong số chúng, nhiều đứa chưa bao giờ được đặt chân lên. Chụp ảnh xong, lũ trẻ lại tiếp tục nhảy ùm xuống, vật nhau dưới biển như những con rái cá con, nước bắn tung toé lên cả chỗ tôi ngồi. Ở đây thiếu nước ngọt để ăn uống (giá một phi nước ngọt 200 lít là 15.000 đồng), nhưng thừa nước mặn để tắm, giặt, thừa nắng, gió, nên đứa trẻ nào cũng đen trùi trũi. Mặt biển là sân chơi duy nhất của trẻ em xóm “chã”, nhưng niềm vui thì luôn ánh lên trên từng gương mặt ướt nhèm nước biển.

Ở đây, mỗi thành viên trong gia đình đều có sự phân công lao động rõ ràng: Đàn ông đi biển; phụ nữ ở nhà trông con, cơm nước, sáng sớm ra bến phân loại từng con tôm, con cá để tiện cho việc buôn bán, thanh toán; trẻ lớn nấu cơm, trẻ bé trông bè hoặc đi theo mẹ vào bờ bán hàng lúc tinh sương để trông thuyền, nhưng đa số chúng đều nằm lăn ra thuyền vừa lơ mơ ngủ, vừa trông chừng mẹ bán hàng xong lên bờ mua cho nắm xôi, cái bánh mì. Những đứa trẻ mới chỉ 2 tuổi đã dạn dĩ với sóng biển, chúng ngồi vắt vẻo bên mạn thuyền mà xúc cơm ăn. Trẻ con sinh ra trên biển đều biết bơi, biết chèo thuyền trước khi biết chạy.

Rời xóm chã Cột 5, chúng tôi lên bờ, ngồi uống nước ở quán của người phụ nữ chừng 60 tuổi, có cái tên rất lạ “Cay”, cả cuộc đời bà ẩn trong cái tên đó. Bà mở hàng cùng lúc phiên chợ cá bắt đầu họp, dọn hàng lúc 10 giờ đêm, khi đội trật tự của phường đi dẹp. Phủ khăn lên đống hàng, bà cùng đứa cháu đích tôn 4 tuổi ôm nhau ngủ ngay trên ghế đá, vỉa hè bao biển, mái nhà là tấm bạt che. Bà kể cho chúng tôi nghe về cuộc đấu khẩu giữa bà và bọn “cướp biển” (từ của bà) ngang nhiên cướp cá của vợ chồng bà khi còn nuôi cá ở trên Vịnh. Nhưng khi hỏi thăm về cuộc sống riêng, giọng bà chợt chùng xuống: “Tôi có 4 đứa con trai, hai đứa lấy vợ, đi làm ăn xa, một đứa lấy vợ cũng ở xóm “chã”, còn thằng cả, nó nghiện, ăn cắp, đánh người, đi tù, tôi bán cả nhà đi lấy tiền đền cho người bị hại, nên phải ra đây “nhập khẩu” với dân xóm chã. Vợ chồng nó bỏ nhau, con để lại tôi nuôi, chồng tôi đã mất, giờ chỉ còn một già, một trẻ sống dựa vào nhau”.
Tạm biệt xóm chã Cột 5, tôi cứ bị ám ảnh bởi những ánh mắt trẻ thơ, những đứa trẻ không được học hành, tương lai mờ mịt; những nhà bè chênh vênh, chật chội; những mảnh đời lênh đênh sóng nước.
TH.H

Cùng chuyên mục