Người Chỉ huy phó trên con tàu không số năm xưa

Theo hẹn, ông đón chúng tôi ở tại Đình Đông, cách nhà khoảng 500m, nét mặt tươi cười phấn khởi. Chúng tôi đi bộ qua đường làng, vào một ngõ nhỏ, dài, hai bên trồng toàn rau ngót, những cây rau xanh mỡ màng, lá to mỏng đang mơn man trước gió. Ông là Vũ Hữu Suông, Chỉ huy phó trên con tàu không số năm nào, hiện ở trong một căn nhà cấp bốn, ba gian đơn sơ, nhưng rộng rãi, thoáng mát giữa một làng quê đầy cây trái xanh tươi ở thôn Yên Đông, xã Yên Hải (Yên Hưng).

Nhìn ông tôi không hình dung nổi trước kia ông đã từng vào sinh ra tử, từ vùng biển Hải Phòng vào đến Bến Tre với biết bao hiểm nguy rình rập. Người mảnh khảnh, da hơi đen vì nắng gió của một vùng quê nước lợ, quanh năm úng lụt, năm nay ông đã ở tuổi xưa nay hiếm, nhưng còn khoẻ mạnh, nhanh nhẹn và minh mẫn lắm.

Hồi tưởng lại những chuyến đi của đoàn tàu không số năm xưa, ông kể: Năm 1962, trước khi đi bộ đội, tôi lấy vợ người cùng làng. Bà ấy cũng là một cán bộ đoàn hoạt động tích cực và được kết nạp Đảng cùng với tôi. Sau 3 tháng huấn luyện làm thuỷ thủ tàu 229, đoàn săn tàu ngầm đóng quân ở khu cảng dầu Bãi Cháy bây giờ, tháng 8-1964, tôi được cử đi học trường sĩ quan tại Quảng Yên, được đào tạo 4 năm thuyền trưởng chuyên phóng lôi. Năm 1969, tôi được điều về Lữ đoàn 125 hải quân, chức vụ thuyền phó tàu 121 nhận nhiệm vụ đặc biệt vào chiến trường B. Tàu chúng tôi được giao nhiệm vụ mở tuyến đường trên biển để hải quân ta tiếp quân và vũ khí chi viện cho miền Nam.Chuyến đi đầu tiên, nhiệm vụ hết sức quan trọng, đòi hỏi sự hy sinh tự nguyện, nên trước khi lên đường, ban chỉ huy cho CBCS trên tàu được quyền lựa chọn, ai muốn ở lại không cần có lý do, cũng không bị đánh giá về tư tưởng, quan điểm chính trị. Lúc đó tàu có 16 CBCS và 10 đặc công nước, các anh không có ai ở lại, đều thề “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

Ngày 15-8-1970 tàu xuất phát tại cảng Hải Phòng, nhưng không đi qua Vịnh Bắc Bộ mà nhờ lãnh hải Trung Quốc đi qua eo biển đảo Hải Nam, dọc bờ biển Philippine, vượt qua đảo Hoàng Sa, Trường Sa, xuống giáp vùng biển Thái Lan mới quay về Hàm Luông (Bến Tre). Gần 1 tuần sau, tàu vào đến khu vực gần bến Hàm Luông. Khi vào gần đến địa điểm tập kết, máy bay Mỹ kèm sát chúng tôi chụp ảnh, ném bom, nhả đạn rốc két liên tục vào những điểm chúng nghi vấn. Tàu chúng tôi đã được ngụy trang rất kỹ như một con tàu đánh cá thông thường, nhưng cũng không thể lọt qua các làn ra đa từ Vũng Tàu quét ra, Côn Đảo quét lại. Trong khi đó trên yêu cầu phải vào cách bờ biển Bến Tre đúng 60 hải lý trước 17 giờ để chờ đêm cập bến Hàm Luông. Ban chỉ huy tàu hội ý chớp nhoáng, phải lợi dụng và tính toán thật chính xác khoảng cách tiếp tuyến của hai làn ra đa để cho tàu mở hết tốc độ vượt qua. Lần đó chúng tôi đã thắng lợi, ra đa địch đã không phát hiện, lợi dụng đêm tối, tàu len lỏi qua bãi sú vẹt, từng mét, từng mét, đến 21 giờ thì vào đến Hàm Luông. Lúc tàu còn cách bờ khoảng 100m, chúng tôi bật tín hiệu liên lạc. Không có trả lời. Giây phút ấy chúng tôi nhìn nhau và nhận ra qua từng ánh mắt, có thể nói đây là giây phút sinh tử, nếu không có người đón, nước triều đã rút xuống, tàu không thể ra, chúng tôi buộc phải phá tàu, lúc đó 3 tấn bom nằm ở 3 khoang sẽ được phát nổ, đồng nghĩa với 30 tấn vũ khí, toàn bộ con tàu cùng CBCS hy sinh. Trước đó chúng tôi đã thề quyết bảo vệ tàu và vũ khí, không để địch bắt, nếu cần phải hy sinh con tàu và hy sinh tính mạng để bảo vệ bí mật con đường đã mở, anh em cũng sẵn sàng.

Chúng tôi lại tiếp tục bật tín hiệu, lần này tín hiệu trả lời sai. Chỉ huy cùng chiến sĩ căng mắt trong đêm tối nhìn hướng vào bờ, bỗng nhận ra rất nhiều ghe nhỏ đang luồn lách trong lau sậy để áp sát vào tàu. Đang chuẩn bị chiến đấu thì nghe nhiều giọng xôn xao “Quân mình đây! Quân mình đây!”. Sau hỏi ra mới biết, vì quá mừng, nên phía anh em ra đón đã đánh tín hiệu sai. 30 tấn vũ khí đã an toàn lên bờ và nhanh chóng chuyển ra chiến trường. Chúng tôi được lệnh chỉ để 3 người ở lại tàu, trong đó có tôi, đồng chí Hậu máy phó và một đồng chí quân khí súng pháo. Số còn lại theo bộ đội và dân quân vào cứ để về quân khu 8, bổ sung vào đơn vị chiến đấu.

Còn lại 3 chúng tôi, rạng sáng ngày 22-8-1970, chúng tôi nhổ neo cho tàu quay trở về Bắc. May mắn chuyến ra không gặp nhiều trở ngại, tàu chúng tôi mở hết tốc lực, mấy ngày sau cập bến K20 Hải Phòng. Được tin tàu chúng tôi cập bến an toàn, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng Phó Tổng Tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn xuống cảng đón chúng tôi.  

Chuyến thứ hai tôi đang ở đơn vị, được lệnh điều sang làm thuyền phó tàu 176 để chuyển tiếp hàng vào chiến trường. Tháng 11-1970, tàu chúng tôi rời bến, vì quen đường, tôi được cử làm hoa tiêu. Chuyến này đi khá thuận lợi. Chúng tôi đi theo tuyến cũ để vào bến, không gặp địch nhưng lại gặp rất nhiều khó khăn về thời tiết. Con nước cạn không vào được bến, chúng tôi xin lệnh chỉ huy quay ra, đến quần đảo Trường Sa gặp cơn bão số 12 rất lớn không thể ra Bắc được, chúng tôi lại xin Bộ chỉ huy quay trở lại Hàm Luông. 9 giờ tối 21-11-1970 chúng tôi vào gần bến. Máy bay tuần tra của địch bắn pháo sáng, phát hiện ra tàu của ta. Chúng bâu xung quanh bắn phá dữ dội. Ban chỉ huy tàu quyết định chiến đấu, lực lượng ta quá mỏng, thương vong nhiều, 30 chiến sĩ chỉ còn lại 9. Lúc này thuyền trưởng xin quyết định nhảy xuống và cho nổ tàu. 9 người chia thành 3 hướng để tránh tập trung hoả lực của địch. Chúng tôi bơi cách tàu khoảng 100m, ấn nút điều khiển, thế là cả con tàu và toàn bộ vũ khí nổ tung, cột khói cao đến hàng chục mét. Riêng tôi lúc đó mê đi tỉnh dậy thấy mình nằm trong một căn hầm (ông bảo chuyện này sau sẽ kể tiếp).

Tuy mất toàn bộ vũ khí, con tàu và 21 chiến sĩ hy sinh, nhưng ta đảm bảo được bí mật con đường, tàu và 30 tấn vũ khí không bị rơi vào tay địch. Sau này trên nhận định “Đó là một thắng lợi”. Chúng tôi chơi vơi trên biển hai ngày đêm mới vào được căn cứ. Thế là chúng tôi ở lại chiến trường gần 5 năm. Tháng 12-1974, tôi được lệnh ra Bắc báo cáo lại toàn bộ tài liệu của tàu không số với Bộ Tổng tham mưu, rồi trở lại đoàn tàu chuyển vũ khí cho chiến dịch đại thắng mùa xuân năm 1975...

Chiến tranh đã lùi xa, người CCB đoàn tàu không số năm xưa vẫn chưa ngơi nghỉ. Hiện ông là Chủ tịch hội CCB xã Yên Hải (Yên Hưng).

TRANG NHUNG (CTV)

Cùng chuyên mục