Nhiều chính sách hỗ trợ phát triển

Trong những năm qua, Quảng Ninh luôn quan tâm hoàn thiện, đổi mới cơ chế, chính sách tài chính cho phát triển khoa học và công nghệ (KH&CN). Qua đó đã khuyến khích và tạo động lực cho các đơn vị, doanh nghiệp và cá nhân đẩy mạnh chuyển giao, ứng dụng tiến bộ KH&CN vào sản xuất nhằm tạo ra sản phẩm, hàng hoá có sức cạnh tranh trên thị trường.

Đổi mới về chính sách

Trong mỗi giai đoạn, cơ chế chính sách về tài chính cho phát triển KH&CN được tỉnh ban hành đều bám sát yêu cầu thực tiễn. Các cơ chế, chính sách về dự toán và sử dụng ngân sách KH&CN cũng được tỉnh đổi mới. Tháng 7-2016, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 2107/2016/QĐ-UBND quy định mức xây dựng, phân bổ dự toán kinh phí đối với nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh có sử dụng ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh. Quy định này quy định cụ thể các yếu tố đầu vào cấu thành dự toán nhiệm vụ KH&CN có sử dụng ngân sách nhà nước; định mức xây dựng dự toán kinh phí đối với nhiệm vụ KH&CN; các hoạt động phục vụ công tác quản lý KH&CN của cơ quan có thẩm quyền. Các định mức xây dựng dự toán đối với nhiệm vụ KH&CN tối đa không quá 70% (đối với nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh) và 35% (đối với nhiệm vụ KH&CN cấp cơ sở) của định mức quy định tại Thông tư liên tịch số 55/2015/TTLT-BTC-BKHCN của Bộ Tài chính và Bộ KH&CN hướng dẫn định mức xây dựng, phân bổ dự toán kinh phí đối với nhiệm vụ KH&CN có sử dụng ngân sách nhà nước.

Công ty CP Viglacera Hạ Long trích từ 5-10% thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp để lập Quỹ phát triển KH&CN. Trong ảnh: Sản xuất gạch tại Nhà máy gạch Tiêu Giao, Công ty CP Viglacera Hạ Long. Ảnh: Nguyễn Hoa
Công ty CP Viglacera Hạ Long trích từ 5-10% thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp để lập Quỹ phát triển KH&CN. Trong ảnh: Sản xuất gạch tại Nhà máy gạch Tiêu Giao, Công ty CP Viglacera Hạ Long.

Các chính sách khuyến khích tổ chức, cá nhân, đặc biệt là doanh nghiệp đầu tư để đổi mới công nghệ trong sản xuất và kinh doanh cũng được tỉnh điều chỉnh phù hợp với giai đoạn hiện nay. Tháng 12-2016, HĐND tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 43/2016/NQ-HĐND về một số cơ chế tài chính khuyến khích, hỗ trợ các tổ chức, cá nhân trong hoạt động KH&CN trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2017-2020. Với mục tiêu hỗ trợ các tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động xác lập quyền sở hữu công nghiệp; áp dụng công cụ, hệ thống quản lý tiên tiến; xây dựng tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm hàng hoá; tham dự chợ công nghệ và thiết bị, hội chợ thương hiệu. Qua đó nhằm khuyến khích các tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh quan tâm đầu tư cho KH&CN, nhất là vấn đề bảo hộ, xác lập quyền sở hữu công nghiệp, phát triển thị trường công nghệ, từ đó phát triển năng suất, chất lượng và nâng cao năng lực cạnh tranh về sản phẩm hàng hoá trong giai đoạn hiện nay. Cũng trong tháng 12-2016, HĐNĐ tỉnh ban hành Nghị quyết số 45/2016/NQ-HĐND về chính sách khuyến khích phát triển sản xuất hàng hoá nông nghiệp tập trung trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2017-2020. Trong các chính sách có mục hỗ trợ đầu tư cho phát triển KH&CN, như: Hỗ trợ kinh phí mua tài liệu, thuê chuyên gia, chuyển giao công nghệ đối với người sản xuất trong vùng sản xuất tập trung; hỗ trợ hoàn thiện quy trình sản xuất, thiết bị công nghệ và dây chuyền sản xuất các sản phẩm thuộc Chương trình OCOP khi thực hiện tại các xã đặc biệt khó khăn; hỗ trợ xây dựng nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận gắn với địa danh.

Tăng cường đầu tư cho KH&CN

Giai đoạn 2011-2015 mặc dù điều kiện ngân sách còn gặp nhiều khó khăn, nhưng tỉnh đã bố trí cho phát triển hoạt động KH&CN và CNTT là 1.457 tỷ đồng, tăng 983% so với giai đoạn 2006-2010, bình quân chi cho KH&CN hằng năm đạt 3,94% tổng chi thường xuyên ngân sách tỉnh (cao nhất là năm 2015 đạt 5,55%). Tỷ lệ đầu tư cho nghiên cứu, triển khai ứng dụng KH&CN đạt 1,58% GRDP của tỉnh. Cùng với đó, tỉnh lồng ghép nhiều nguồn vốn cho KH&CN; trong đó Bộ KH&CN hỗ trợ 31 tỷ đồng để thực hiện 20 chương trình, dự án, Bộ NN&PTNT hỗ trợ 5 tỷ đồng thực hiện 3 dự án. 14/14 huyện, thị xã, thành phố bố trí kinh phí từ nguồn thu ngân sách địa phương, lồng ghép nhiều nguồn vốn (xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế...) để đầu tư ứng dụng, chuyển giao tiến bộ KH&CN. Tỉnh đã thành lập Quỹ Phát triển KH&CN, cho vay 4 dự án với kinh phí trên 26 tỷ đồng; trong đó nguồn nhà nước hỗ trợ chiếm 8,6% để doanh nghiệp nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao tiến bộ KHCN vào sản xuất. Để tiếp tục đầu tư phát triển KH&CN, tỉnh đang xây dựng dự thảo Nghị quyết về phát triển KH&CN đến năm 2020. Tại hội nghị lấy ý kiến về dự thảo vừa qua, đồng chí Nguyễn Văn Đọc, Bí thư Tỉnh uỷ nhấn mạnh, kinh phí cho phát triển KH&CN, tỉnh sẽ dành từ 4-5% tổng chi thường xuyên cho lĩnh vực này.

Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào nguồn lực từ ngân sách thì rất khó có thể tạo ra được đột phá, đưa KHCN trở thành động lực quan trọng phát triển của tỉnh. Điều đó đòi hỏi phải đa dạng hoá nguồn tài chính, thu hút đầu tư từ phía doanh nghiệp, tổ chức quốc tế và toàn xã hội. Nhà nước đang khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp đầu tư, tài trợ cho KH&CN thông qua việc thành lập các quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp. Với doanh nghiệp nhà nước hằng năm phải trích 3-10% thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp để lập Quỹ. Còn doanh nghiệp ngoài nhà nước được quyền trích từ thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp một tỷ lệ hợp lý, tối đa 10% để lập quỹ. Đến nay, Quảng Ninh bước đầu đã có một số doanh nghiệp trích lợi nhuận sau thuế để thành lập quỹ phát triển KH&CN như: TKV, Công ty CP Viglacera Hạ Long, Công ty CP Dược Quảng Ninh; hoặc tự đầu tư kinh phí ứng dụng KH&CN, như: TKV, Công ty CP Terranique, HTX Hoa Phong, HTX Toàn Dân...

Nguyễn Hoa

Cùng chuyên mục