Hội thi STKT tỉnh Quảng Ninh lần thứ IV năm 2013 đã nhận được 203 giải pháp tham dự. Qua khảo sát thực tế, có thể thấy hầu hết các giải pháp đều xuất phát từ nhu cầu thực tế cuộc sống nên có tính ứng dụng cao.
Trong đó phải kể đến 3 giải pháp tiêu biểu; đó là: Giải pháp “Ứng dụng phẫu thuật nội soi lồng ngực trong chẩn đoán và điều trị bệnh lý phổi, màng phổi” của Bác sĩ Nguyễn Quốc Hùng (Bệnh viện Đa khoa tỉnh), giải pháp “Cải tiến quy trình đực hoá cá rô phi” của nhóm tác giả Vũ Công Tâm và Nguyễn Đức Trường (Trung tâm KH&KT sản xuất giống thuỷ sản Quảng Ninh) và giải pháp “Gia cố sườn bãi thải bằng vật liệu dễ phân huỷ nâng cao hiệu quả trong công tác trồng cây cải tạo phục hồi môi trường” của Thái Đình Hiếu, Trưởng Phòng Môi trường (Công ty CP Than Cọc Sáu - Vinacomin.
Theo bác sĩ Nguyễn Quốc Hùng, Giám đốc Bệnh viện Sản - Nhi Quảng Ninh (nguyên là Phó Giám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh), tác giả của giải pháp “Ứng dụng phẫu thuật nội soi lồng ngực trong chẩn đoán và điều trị bệnh lý phổi, màng phổi”, ở Quảng Ninh, do đặc thù của vùng khai thác than nên các bệnh về phổi và màng phổi rất thường gặp. Bởi vậy, phẫu thuật nội soi lồng ngực có vai trò quan trọng trong việc chẩn đoán những khối u mà theo nhận định trước mổ là không thể cắt được. Đặc biệt là những khối u ở những vùng ngoại vi khi sinh tiết qua nội soi phế quản không thể thực hiện được… “Xuất phát từ thực tế đó, tôi và các đồng nghiệp đã quyết tâm, mạnh dạn ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào thực hiện giải pháp phẫu thuật nội soi lồng ngực tại Khoa Ung bướu, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh” - Bác sĩ Hùng nói.
Kỹ thuật mới này đã được ứng dụng đầu tiên để phẫu thuật nội soi, cắt kén khí phổi trái cho một bệnh nhân nam 50 tuổi tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh. Ca mổ thành công, bệnh nhân nằm viện 3 ngày rồi xuất viện và hiện đã hồi phục sức khoẻ, lao động bình thường. Từ tháng 1-2011 đến tháng 11-2012, tại Khoa Ung bướu (Bệnh viện Đa khoa tỉnh) đã thực hiện được 43 ca phẫu thuật nội soi lồng ngực, hầu hết được chỉ định để chẩn đoán vì nó tránh cho bệnh nhân một cuộc phẫu thuật mở lồng ngực không cần thiết. Hầu hết các trường hợp sinh tiết đều không có tai biến và biến chứng nặng trong và sau mổ. Chỉ có 2 trường hợp bệnh nhân khó thở kéo dài sau mổ, do tổn thương phổi quá nặng. Tuy nhiên bệnh nhân vẫn được cứu sống…
Với tính hữu ích đó, giải pháp này đã được Tổ chuyên gia chấm điểm tại Hội thi STKT tỉnh Quảng Ninh lần thứ IV đánh giá là một trong những giải pháp thực sự hữu ích và có tính sáng tạo trong lĩnh vực Y - Dược Quảng Ninh. Ông Nguyễn Hồng Hạnh, Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh (người tham gia chấm điểm giải pháp này) nhận xét: “Giải pháp “Ứng dụng phẫu thuật nội soi lồng ngực trong chẩn đoán và điều trị bệnh lý phổi, màng phổi” của Bác sĩ Hùng là một kỹ thuật hiện đại lần đầu tiên ứng dụng tại Quảng Ninh nhưng lại có tính khả thi cao khi đã thực hiện được 43 ca. Đây là kỹ thuật ngang tầm với tuyến Trung ương nhưng hiện nay ở Quảng Ninh nó không chỉ áp dụng tại Bệnh viện tỉnh mà đã chuyển giao tới các bệnh viện hạng 2, hạng 3 ở tuyến dưới…”.
Khác với giải pháp của bác sĩ Hùng, giải pháp “Cải tiến quy trình đực hoá cá rô phi” của tác giả Vũ Công Tâm và Nguyễn Đức Trường lại thuộc về lĩnh vực nông nghiệp. Đây cũng là một giải pháp mới, lần đầu tiên được thực hiện ở Quảng Ninh. Theo các tác giả của giải pháp, thì chúng ta không thể sản xuất đàn cá rô phi 100% đực, cho dù áp dụng các phương pháp riêng lẻ hay kết hợp nhiều phương pháp với nhau. Do đó, một giải pháp đơn giản để đạt tỷ lệ đực tương đối cao là giải pháp “đực hoá cá rô phi” bằng cách ngâm trong túi nước pha Methyltestosterone có bơm oxy; giải pháp này có thể tăng tỷ lệ cá rô phi đực của đàn cá lên gần 95%, trong khi giảm được chi phí và nhân công sản xuất. Ông Hoàng Công Đãng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, sau khi khảo sát thực tế giải pháp này, đã nói: “Việc cải tiến quy trình đực hoá cá rô phi bằng phương pháp ngâm trong nước có pha Methyltestosterone là một cách làm rất thiết thực, hiệu quả. Không những nâng cao chất lượng sản xuất giống, tạo ra con giống khoẻ mạnh, phát triển tốt mà còn góp phần tích cực vào việc nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho bà con nông dân”.
Riêng với giải pháp “Gia cố sườn bãi thải bằng vật liệu dễ phân huỷ nâng cao hiệu quả trong công tác trồng cây cải tạo phục hồi môi trường”, theo các tác giả của nó, là do nhu cầu thực tiễn trong khai thác than ở Mỏ than Cọc Sáu có nhiều khu vực đã kết thúc và đang cải tại phục hồi môi trường. Do đó, việc đảm bảo ổn định, tạo cảnh quan khu vực và an toàn cho khu vực dân cư phía dưới là rất cần thiết, đòi hỏi phải có các giải pháp kỹ thuật. Xuất phát từ đó, giải pháp “Gia cố sườn bãi thải bằng vật liệu dễ phân huỷ nâng cao hiệu quả trong công tác trồng cây cải tạo phục hồi môi trường” đã ra đời và được áp dụng có hiệu quả từ tháng 4-2011. Trên địa bàn toàn quốc cũng như ở Quảng Ninh, đây là lần đầu tiên áp dụng giải pháp này trong việc gia cố các tầng thải phục vụ công tác trồng cây cải tạo phục hồi môi trường và hạn chế nguy cơ sự cố môi trường từ các bãi thải. Giải pháp đã được áp dụng tại tầng thải mức +60 khu vực bãi thải Khe Rè của Công ty CP Than Cọc Sáu - Vinacomin với các tiện ích như: Sử dụng các vật liệu có sẵn là lau le, gỗ, cây thân mềm thân thiện với môi trường; định vị vật liệu so le theo các đường đồng mức trên sườn các bãi thải nhằm giảm động năng của dòng nước mưa kéo trôi đất đá bề mặt sườn bãi thải tăng độ ổn định bề mặt sườn tầng và tầng thải v.v.. Bởi vậy, việc thi công cải tạo các tầng thải theo các giải pháp kỹ thuật nói trên đã đem lại hiệu quả rõ rệt trong công tác cải tạo bãi thải, hạn chế các nguy cơ sự cố môi trường từ các bãi thải...
Thu Hương (Sở KH&CN)