Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng với những người lính từng đi qua chiến dịch cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ký ức về ngày toàn thắng vẫn vẹn nguyên như mới hôm qua. Trong câu chuyện của họ, chiến thắng không chỉ là niềm vui vỡ òa, mà còn là máu xương, là đồng đội, là niềm tin và khát vọng thống nhất non sông.
Trong ký ức của cựu chiến binh Trần Quốc Mạnh, phường Hoành Bồ, những ngày cuối tháng 4/1975 không chỉ là dấu mốc của lịch sử dân tộc, mà còn là phần ký ức sâu đậm nhất của cuộc đời người lính. Gần nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng mỗi khi nhắc đến Chiến dịch Hồ Chí Minh, ông vẫn nhớ rõ từng chặng tiến quân của đơn vị mình trong đội hình hướng về Sài Gòn.
Thời điểm ấy, ông Mạnh là chiến sĩ Trung đoàn 66, Sư đoàn 304, Quân đoàn 2. Đơn vị của ông được giao nhiệm vụ cơ động theo hướng thọc sâu, tiến vào Sài Gòn, đánh chiếm mục tiêu trọng yếu là Dinh Độc Lập. Ông Mạnh nhớ lại, chiều 26/4/1975, khi chiến dịch bắt đầu, đơn vị của ông nhận nhiệm vụ đánh vào khu vực ngã ba đường số 15, trên hướng xa lộ Sài Gòn - Biên Hòa. Sáng 29/4, đội hình của ông Mạnh có mặt gần cầu Sài Gòn. Cửa ngõ này khi đó vẫn là điểm chống trả quyết liệt của địch. Phía trước, lực lượng đặc công và Lữ đoàn xe tăng 203 đang tổ chức tiến công; phía bên kia cầu, địch dựa vào công sự, xe tăng và phương tiện trên sông để cản bước quân giải phóng. Đơn vị của ông Mạnh được bố trí phía sau đội hình chiến đấu, chờ thời cơ phối hợp.
Đến sáng 30/4, sau khi lực lượng xe tăng được tăng cường, đơn vị của ông Mạnh cùng các mũi tiến công vượt qua cầu Sài Gòn. Từ đây, đội hình tiến vào trung tâm thành phố. Các chiến sĩ biệt động thành dẫn đường, còn người dân Sài Gòn đứng dọc hai bên đường, vẫy cờ đỏ sao vàng chào đón quân giải phóng.
Đến 11h30 ngày 30/4/1975, lá cờ cách mạng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập, đánh dấu thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Nhắc lại thời khắc ấy, cựu chiến binh Trần Quốc Mạnh xúc động: “Đến giờ tôi vẫn nhớ như in thời khắc trưa 30/4, khi lá cờ cách mạng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập. Bao nhiêu gian khổ, hy sinh như dồn lại trong giây phút ấy. Anh em chúng tôi mừng lắm, chỉ nghĩ đất nước đã thống nhất rồi, chiến tranh đã kết thúc rồi”.
Với cựu chiến binh Lê Long Triệu, phường Hạ Long, ngày 30/4/1975 lại là một ký ức đặc biệt khi ông không có mặt trong đội hình tiến vào Sài Gòn mà đón tin toàn thắng lúc đang điều trị tại Bệnh viện 108 sau những vết thương nặng trên chiến trường.
Theo lời kể, ông nhập ngũ năm 18 tuổi, khi còn là chàng trai quê xã Bình Dương, huyện Đông Triều. Sau thời gian huấn luyện đặc công tại Hải Dương, cuối năm 1970, ông cùng Tiểu đoàn 4, mật danh T40, thuộc Đoàn 429 đặc công, vào chiến đấu tại chiến trường miền Tây Nam Bộ. Những năm tháng ấy, người lính trẻ Lê Long Triệu tham gia 9 trận đánh lớn, 3 lần bị thương. Trận cuối cùng tại đồi pháo Hà Tiên, Kiên Giang (nay là tỉnh An Giang) để lại trên cơ thể ông những di chứng theo suốt cuộc đời.
Bởi vậy, khi nghe tin chiến thắng ngày 30/4/1975 qua chiếc đài mang ra từ chiến trường, ông Triệu và những thương binh đang điều trị trong bệnh viện đã vỡ òa. Ông Triệu nhớ lại: “Cảm xúc khi ấy rất khó diễn tả. Mừng vì chiến tranh đã kết thúc, đất nước đã liền một dải nhưng cũng nghẹn lại khi nghĩ đến đồng đội. Thương đồng đội, những người mới mười tám, đôi mươi đã hy sinh trên các chiến trường. Ngày toàn thắng vì thế không chỉ có tiếng reo vui trong phòng bệnh mà còn có cả sự lặng đi khi nhớ về những người không kịp trở về”.
Với ông Triệu, hòa bình là niềm vui lớn của dân tộc nhưng cũng là điều được đánh đổi bằng máu xương của biết bao người lính trẻ. Chính vì vậy, mỗi lần nhắc đến ngày 30/4, ông vẫn luôn nhớ niềm vui chiến thắng cùng nỗi thương nhớ đồng đội đã nằm lại nơi chiến trường.
Theo Hội Cựu chiến binh tỉnh, trong 21 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Quảng Ninh đã có trên 23.000 cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang và thanh niên xung phong trực tiếp tham gia cuộc chiến. Trên khắp các chiến trường, hơn 8.000 người con Đất mỏ đã anh dũng hy sinh; hơn 4.000 thương binh, 1.000 bệnh binh mang trên mình những vết thương chiến tranh; 5.000 người là nạn nhân chất độc da cam. Toàn tỉnh có 68 Dũng sĩ diệt Mỹ, 8 Anh hùng LLVT. Đó là những con số nhắc nhớ về sự hy sinh to lớn của quê hương Vùng mỏ trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Trở về sau chiến tranh, những người lính năm xưa tiếp tục phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong cuộc sống đời thường. Không còn cầm súng nơi chiến trường, họ lại có mặt trong các phong trào thi đua yêu nước, phong trào “Cựu chiến binh gương mẫu”, tích cực tham gia các cuộc vận động do trung ương và địa phương phát động. Ở mỗi khu dân cư, mỗi tổ chức hội, cựu chiến binh vẫn là lực lượng nòng cốt trong tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành chủ trương, chính sách; tham gia xây dựng đời sống văn hóa, giữ gìn tình làng nghĩa xóm, đóng góp ý kiến xây dựng cơ sở ngày càng vững mạnh.
Điểm đáng quý là tinh thần ấy không dừng lại ở những phong trào chung, mà được thể hiện bằng những việc làm cụ thể, thiết thực. Nhiều cựu chiến binh gương mẫu phát triển kinh tế, giúp nhau giảm nghèo, hỗ trợ đồng đội có hoàn cảnh khó khăn; tham gia giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ; đóng góp công sức vào các hoạt động xã hội, nhân đạo, nghĩa tình đồng đội. Từ bản lĩnh được tôi luyện trong chiến tranh, họ tiếp tục sống trách nhiệm, bền bỉ cống hiến cho gia đình, khu dân cư và quê hương.