Không dễ gì gặp được đám trẻ bụi. Có khi tận 1h sáng chúng còn tất bật lượm ve chai. Ban đầu, những chú "sói" con này thường "xù lông" đối phó, có khi cũng rất chảnh chọe.
Cặm cụi bới rác trước các công trình đang xây dựng
Một tuổi thơ nhọc nhằn
"Ước mơ gì à? Một chỗ ngủ đêm ngon lành, đủ ăn là okie salem" - Tuyền nói. Mắt trong như 2 hòn bi ve, da sậm như chiếc bánh chocopie đêm nào cũng nằm tưởng tượng. Cái chữ lóng "okie salem" hình thành từ dân anh chị Sài Gòn mấy chục năm trước đây, giờ vẫn thịnh hành. Nó tiêu biểu cho nét khí khái, xuề xoà của người Sài Gòn, sao cũng được miễn đừng khổ quá là "okie salem".
Cha ruột chết vì xìke khi Tuyền chuẩn bị ra đời, dượng kế cũng vì xìke mà lìa đời, 3 năm trước mẹ cô cũng xộ khám vì bán hàng trắng, khi thằng út mới được vài tháng tuổi. 14 tuổi, Tuyền có cái nhìn của một người trưởng thành, trưởng thành đến sắc lẹm để nuôi bằng được bà ngoại và 3 thằng em lay lắt cùng một lời thề "Ai còn mơ tới ma tuý, ra đường mà ở".
Khu Tôn Đản, quận 4 bấy lâu vẫn là điểm nóng về ma tuý. Bao nhiêu người xộ khám vì nó, bao nhiêu mạng người vì nó để rồi một sáng cho người ta hốt xác trên khu chợ hôi mùi bùn, Cầu Mống, đem đi. Tuyền thấy hết, thấy từ cha mẹ, từ bạn chung xóm, từ lũ trẻ lang thang giống mình bị giật thót vì ma tuý. Nhà cô nghèo, nghèo đến nỗi một gói xôi chia 5, một ổ bánh mì ướt nước mưa người ta ném ra đường cũng lượm lên mà ăn, nhưng giờ thì cả nhà không dám "rờ" vào cái chất trắng ấy nữa.
Ai hằng ngày đi qua con đường Bến Chương Dương - khúc gần với Bến Nhà Rồng - vẫn thấy một hình ảnh quen thuộc với một đầu bạc cùng hai đầu xanh ngày ngày cặm cụi bới rác ngay trước vài công trình đang xây dựng. Một ngày mưa nắng ngang nhau, kiếm được 60.000đ là hết cỡ. "Như thế này thì gia đình em dư sức nằm trong danh sách hộ nghèo được trợ cấp rồi mà?". "Ai cấp, làm gì có hộ khẩu mà được cấp?" - một câu hỏi ngược như thể đã trả lời đến cả vạn lần.
"Tháng này giá nhà lên nữa, sao giờ Tuyền?" - ngoại tuổi hơn 70, tay lượm nốt bịch snack trong đống rác lâu ngày, mắt ngước nhìn con cháu. "Dẹp, lên nữa là xuống cầu ở, mệt" - Tuyền trả lời, mắt ráo hoảnh vẫn nhìn vào đống rác, tay bới bới, miệng vẫn nói chuyện. Để ý, sẽ thấy những câu nói của cô bé này chẳng có bao giờ có chủ ngữ.
Nhà nhỏ như mái lều, gồm 1 bàn gỗ có đèn dầu phía trên, gỗ bốn vách, đêm mưa to nghe rõ như thể đang tắm ngoài trời. Một tháng thuê "3 xị" (300.000đ) trong một con hẻm ăngten trên đường Tôn Đản (Q.4). Đêm ngủ bằng đèn dầu cùng những tiếng chửi thề đến sáng của đám trẻ bụi đời ngủ vắt trước hiên nhà. 14 tuổi, Tuyền quyết định hết mọi việc trong nhà. 14 tuổi, Tuyền không có nhiều bạn bè, không có một thần tượng ca nhạc và cũng chưa bao giờ nuôi một ước mơ cao hơn nồi cơm phả khói mỗi 6h chiều.
Tìm kiếm ước mơ từ những đống
gạch vụn.
Theo thống kê của Bộ Lao động Thương binh - Xã hội (LĐTBXH) đưa ra vào năm 2003, thì TPHCM có khoảng 9.000 trẻ lang thang không phân loại và con số này có thể thay đổi vào mỗi thời điểm. Nhưng gần 15 năm nay, cô bé Nguyễn Thị Ngọc Tuyền dường như chưa bao giờ lọt tên ra ngoài danh sách. Cô cùng 3 đứa em nhỏ ngày nào cũng lang thang tìm kế sinh nhai. Ngoại già yếu, cũng không thể đành lòng nằm nhà chờ 4 đứa cháu nhỏ cơ cực. Cả nhà cùng đi, cùng lang thang và ước mơ thì vẫn cứ lơ lửng ở trên cao.
Những con đường tha hương
Thời nào Sài Gòn cũng lắm người nhập cư. Và trong đội quân tha hương ấy không thiếu những đứa trẻ bỏ quê, bỏ gia đình ra đi tìm một cuộc đời đỡ vất vả hơn. Dũng cũng thế, nhưng hoàn cảnh khốn khổ hơn. Quê Thanh Hoá - học đến lớp 3, cả nhà không còn ai sau một trận bão. Vào Sài Gòn hơn một năm, được đem vào nhà tình thương nuôi dưỡng. Quá 3 tháng thì trốn. "Phải trốn chú ạ, cháu không hoà nhập được, hầu như ngày nào cũng bị đánh. Làm sai, đánh.
Thấy bất công, mách cô cũng bị đánh hội đồng. Bán vé số được bao nhiêu cũng bị bọn nó trấn hết" - Dũng kể lại. Ngày bán vé số, trưa ngủ dọc đường, tối về chọn một góc quen thuộc trong công viên mà yên giấc. Mắt lấm lét, không dám giao du với ai, sợ bị trấn lột, thấy ai nhìn chằm chằm là bỏ chạy.
Hai ngày một lần tìm đến các công trường xây dựng xin tí nước tắm, quần áo không quá 2 bộ, chân trần không có nổi đôi dép để mang. "Cháu chỉ mơ ước có đủ ăn trước mắt, giá vé số tăng cao nên ít người mua, dạo này đã giảm xuống lại, nhưng phải một thời gian nữa mới mong có tiền lời nhiều. Đến lúc đó mới dám tính đến chuyện thuê nhà" - Dũng bộc bạch.
Không giống như Dũng, Huy từ Phú Yên vào đây với số vốn dành dụm gần triệu. Bỏ tiền mua được chiếc xe đạp, ngày ngày đạp hơn 30 cây số đi nhặt ve chai. Cuộc sống của cậu chỉ diễn ra chiều về khuya, nơi các quán nhậu đèn mở tưng bừng và lon bia quăng tới tấp. Tốt thì ngày lời 40.000đ, còn không có khi chỉ được 10.000đ.
"Mặt mũi con sáng sủa thế, sao không đi học thêm, ở phường không có sao?" - hỏi để mong nhận một câu trả lời sáng sủa. Nhưng "Không chú ạ, con học dốt lắm". Công việc của Dũng thường kết thúc vào 4h sáng, đạp thêm 30 cây số bỏ ve chai cho một vựa ở Gò Vấp. Sau đó, về ngủ trong một ngôi nhà có gần 20 mảnh đời giống nhau, tháng mất gần 200.000đ tiền trọ.
Ước mơ nào?
Hiện ở thành phố có rất nhiều nhà tình thương, trung tâm nuôi dạy, trại trẻ mồ côi... đón nhận trẻ em lang thang, cơ nhỡ... Nhưng đến thời điểm này, hầu như tất cả không thể cáng đáng hết nổi số lượng đang có trong thực tế. Trong số 9.000 trẻ không phân loại mà Bộ LĐTBXH đưa ra vào năm 2003, thì đến nay những trẻ thuộc diện lang thang nhập cư đều đã được động viên hồi gia gần một nửa.
Số còn lại đang được tiếp tục phân loại, nhưng theo bà Hoa - Trưởng phòng Bảo trợ xã hội thuộc Sở LĐTBXH thành phố thì "vẫn chưa có đủ kinh phí để khảo sát thực tế và mọi việc đang diễn ra cũng chỉ mới ở mức phỏng đoán mà thôi".
Trong một báo cáo nghiên cứu năm 2005 của bà Dương Kim Hồng - nghiên cứu viên tại Diễn đàn Phát triển Việt Nam (VDF) về "Trẻ đường phố Việt Nam" - có dẫn chứng "Báo cáo thống kê hàng năm của Bộ LĐTBXH chỉ ra rằng, số trẻ đường phố tăng lên hàng năm khá nhiều. Vào năm 1997, tổng số trẻ lang thang đường phố là 13.377 trẻ, năm 1998 là 19.047 trẻ và năm 2001 là 21.016 trẻ. Những con số này cho thấy số trẻ đường phố mới, xuất hiện hàng năm nhiều hơn số lượng trẻ từ bỏ cuộc sống trên hè phố, hoặc những đối tượng không còn được coi là trẻ đường phố nữa khi các em đã trưởng thành".
Một mặt khác, khi những trẻ đủ tuổi trưởng thành và được tái hoà nhập xã hội, thì hầu như mặt bằng xã hội đã cản trở khá nhiều tới quá trình hoà nhập của họ. Ơ trung tâm Tam Bình, có những người sau một thời gian hoà nhập đã xin về lại trường để làm bất cứ công việc gì, vì không tìm được việc làm. Và không thiếu những người - vì hoà nhập quá khó khăn - nên đã trở lại con đường tệ nạn.
Những đứa trẻ lang thang hôm nay và những người lớn ngày mai, nếu không có một sự thay đổi gạch ngang, thì cuộc sống của họ vẫn chỉ nuôi ước mơ không lớn hơn dạ dày. Và cái gạch ngang ấy - để giải quyết được không chỉ từ phía họ - mà còn là sự quan tâm hơn của xã hội.
Tuấn Anh - cậu trai 6 tuổi, em của Tuyền - bảo rằng "Con còn ước mơ sẽ có thật nhiều nhà cao tầng được xây thêm, càng cao sẽ càng có nhiều xà bần và phế liệu cho tụi con tìm kiếm". Đến bao giờ ước mơ của chúng mới cao được hơn những ngôi nhà chọc trời, và đến bao giờ gương mặt trẻ thơ của chúng không lấm bụi vôi, đất sét?