Nằm cách biệt hẳn với thế giới bên ngoài, từ nhiều năm nay, hơn chục gia đình người dân tộc Dao ở thôn Khe Táo, xã Đồng Sơn (Hoành Bồ) đang phải từng ngày, từng giờ đối mặt với cuộc sống khó khăn thường nhật. Mới đây, chúng tôi có dịp đến tìm hiểu cuộc sống trong thôn và được nghe, chứng kiến những nỗi niềm trăn trở của bà con nơi đây!
Những đứa trẻ đang “tuổi ăn, tuổi học” hàng ngày vẫn phải vác dao lên rừng kiếm sống
Gian nan đường vào khe táo
Khi biết chúng tôi có ý định vào Khe Táo, một đồng chí cán bộ xã Đồng Sơn (Hoành Bồ) băn khoăn: “Khó đi lắm, không đi được đâu vì đường vào Khe Táo phải qua nhiều suối và dốc cao, nếu gặp trời mưa thì đường trơn và nguy hiểm lắm”. Anh từ chối dẫn đường mà chỉ cho chúng tôi lối đi vào Khe Táo. Ngược theo con đường bê tông từ trung tâm xã xuống huyện rồi rẽ vào một con đường đất nhỏ để đến Khe Táo. Đi chừng hơn 30m thì chúng tôi gặp một con suối nước cuồn cuộn chảy, rộng chừng hơn chục mét với những hòn đá cuội, đá tảng lô nhô rêu phong trơn trượt, chỉ cần một chút sơ ý là người qua đây có thể bị ngã. Đánh vật mãi, cuối cùng chúng tôi mới vượt qua được con suối đó. Càng đi vào phía trong, mật độ suối càng dày và sự dữ tợn của dòng nước giữa mùa mưa lũ càng khủng khiếp hơn. Lội qua gần hai chục con suối, chúng tôi tiếp tục gặp một đèo cao ngất ngưởng ước chừng dài tới hàng cây số. Chúng tôi ngồi nghỉ lấy sức để vượt dốc. Sau nhiều cố gắng chúng tôi cũng lên được đến 1/3 con dốc. “Con ngựa sắt” của chúng tôi cứ chồm lên được một chút là lại bị hất văng về phía sau. Lốp xe mài vào vách đá khét lẹt: Mọi sự cố gắng của chúng tôi hòng làm cho xe nhích về phía trước đều trở nên vô ích. Không lên được dốc, chúng tôi đành tiếc nuối quay về. Vừa quay được đầu xe và ngồi lên thì đường trơn đã kéo tuột chúng tôi ồng ộc lao xuống chân dốc. Không dám đạp phanh, chúng tôi đành bất lực để mặc cho xe lao vào vách núi mới dừng lại được. Lúc này, chúng tôi mới hú hồn vì chỉ còn chút xíu nữa thì cả người và xe bị văng xuống vực núi. Đang loay hoay đánh vật với “con ngựa sắt” nằm chết dí cạnh sườn núi thì thấy 2 thanh niên dắt xe máy đi đến. May sao họ giúp chúng tôi ''vận chuyển'' chiếc xe ra khỏi miệng vực. Hỏi tên mới biết đó là Bàn Sinh Xông và Bàn Văn Hưng nhà ở thôn Cầm Kẻn ra UBND xã Đồng Sơn có việc, đang trên đường về nhưng bị hết xăng nên cả 2 phải thay nhau dắt bộ. Khi biết chúng tôi có ý định vào Khe Táo thì Bàn Sinh Xông bảo “ấy dà, đây mới là đầu thôn Cầm Kẻn thôi, muốn vào Khe Táo thì phải vượt qua dốc này gửi xe vào thôn rồi đi bộ tiếp. Nhưng nếu đi bộ cũng phải cẩn thận vì nước suối chảy xiết lắm, trước đấy đã có người đi làm nương về vượt lũ bị cuốn trôi, mấy ngày sau người nhà mới vớt được xác tận sông Ba Chẽ đấy”. Thế rồi, 2 thanh niên tốt bụng đã giúp chúng tôi vượt dốc và dẫn chúng tôi đến nhà người quen của họ gửi xe. Khi thấy chúng tôi vẫn quyết tâm đi bộ vào Khe Táo, Bàn Văn Hưng nhiệt tình bảo: “Thôi để mình dẫn đi cho nhanh, chứ mấy anh mà mò mẫm trong rừng thì nguy hiểm lắm!”. Sau nhiều giờ đi bộ men theo con đường mòn xuyên qua những vạt rừng, vượt hơn chục con suối nữa, cuối cùng chúng tôi cũng đến được nơi cần đến. Lúc này trời đã chạng vạng tối, một số gia đình đã rục rịch chuẩn bị bữa cơn chiều. Còn trên các sườn núi nhiều đứa trẻ trên tay cầm dao, dựa đang vội vã về nhà. Chỉ vào mấy đứa bé, Bàn Sinh Hưng cho biết: “Cuộc sống ở đây khó khăn lắm, những đứa trẻ này tuy còn ít tuổi, nhưng đã phải lên rừng kiếm ăn giúp gia đình”.
Làm nông thì khó, làm rừng lại không!
Nhà đầu tiên chúng tôi đến là gia đình anh Đặng Văn Quý ở ngay lối vào Khe Táo. Đó là ngôi nhà 3 gian, mái lợp prôximăng, tường vá víu, vừa 3 vách gỗ, vách đan tre, nứa. Quanh nhà là một khoảng vườn rộng chừng vài chục m2 được trồng khá nhiều loại rau. Lúc này, anh Quý đang loay hoay sửa lại chiếc máy thuỷ điện nhỏ bên vệ suối. Thấy khách đến nhà, anh Quý liền đon đả vừa mời khách vào nhà vừa cho biết, trước đây gia đình anh ở bên Khe Càn cách đây mấy quả núi, nhưng vì cuộc sống ở đó khó khăn quá, nên gia đình phải chạy hết từ quả đồi nọ đến vạt đồi kia để phát nương làm rẫy, nhưng do không định cư một nơi làm ăn nên cuộc sống lúc nào cũng đói kém. Năm 1997, gia đình anh chuyển sang Khe Táo khai hoang, ngăn nước trồng lúa, chấm dứt tình trạng du canh du cư. Gần 10 năm gia đình anh đã khai hoang được hơn 5 sào ruộng và từ đó đến nay cuộc sống gia đình trông cả vào 5 sào ruộng này. Vụ nào làm tốt cũng chỉ được 1 tạ/sào; thu hoạch bình quân cả năm cũng được khoảng 1 tấn thóc, tằn tiện thì cũng đủ cho 5 khẩu ăn trong một năm. Và theo lời anh Quý thì hiện gia đình anh được xếp vào hạng khấm khá nhất trong thôn. Khi biết chúng tôi muốn đến thăm một số gia đình khác trong thôn, anh Quý ngần ngại bảo rằng “Bây giờ trời tối rồi, thôi cứ nghỉ ngơi đã, mai hãy đi”.
Sáng sớm hôm sau, khi còn chưa nhìn rõ mặt người, anh Quý đã giục chúng tôi dậy và bảo “Muốn gặp được người dân ở đây thì phải đến sớm, vì chốc nữa mọi người đều lên rừng kiếm ăn cả chẳng có ai ở nhà đâu”. Theo chân anh Quý đến nhà anh Linh Quý Sinh cách đó vài trăm mét. Gia đình anh Sinh ở trong ngôi nhà nhỏ xíu được quây bằng 4 vách tre tạm bợ và ngăn làm 2 gian, 1 gian để 2 vợ chồng cùng 2 con nhỏ ở ngủ và một góc làm bếp. Nhìn kỹ trong nhà anh Sinh không thấy gì đáng giá, chỉ có một chiếc giường gỗ, mấy chiếc ghế nhựa và một chiếc nồi tôn đang luộc sắn. Hai đứa con anh chị đang loay hoay với đống sắn nơi góc bếp. Anh Sinh cho biết: “Gia đình tôi chuyển đến đây từ hơn chục năm trước, lúc ấy kiếm sống còn dễ. Hàng ngày, vợ tôi làm ruộng cấy lúa, trồng sắn, còn tôi vào rừng săn bắn thú cũng đủ ăn. Nhưng nay, cả đồi núi ở đây đều thuộc rừng bảo tồn thiên nhiên nên cấm mọi người không được đi rừng săn thú, khai thác gỗ. Cả gia đình chỉ trông vào 4 sào ruộng, mỗi năm thu hoạch được mấy tạ thóc, có tằn tiện cũng chỉ đủ ăn trong nửa năm, còn lại phải ăn độn khoai, sắn là chính”. Rời nhà anh Sinh với nỗi băn khoăn về sự mưu sinh thường nhật của gia đình, chúng tôi tiếp tục đến nhà ông Dương Trung Dòi ở cuối thôn Khe Táo. Trên vách nhà ông Dòi có treo mấy khẩu súng kíp, còn dưới gầm giường có nhiều đồ bẫy thú. Thấy chúng tôi thắc mắc tại sao có nhiều súng và bẫy thú mà lại để han gỉ như vậy, thì ông Dòi thở dài thườn thượt “bây giờ bị cấm rồi nên đành phải xếp xó thôi”. Gia cảnh nhà ông cũng không kém phần khó khăn. Ông cho biết: “Nhà tôi có gần một mẫu ruộng nhưng phần lớn ở những nơi khó đưa nước về nên canh tác rất khó khăn. Có những năm do thiếu nước, nhiều thửa ruộng chỉ cho thu hoạch rơm thôi. Nếu không được vào rừng khai thác thì không biết nhà tôi sống như thế nào”. Chúng tôi còn đến thăm một số gia đình khác trong thôn, và ở bất cứ gia đình nào chúng tôi cũng được chứng kiến những khó khăn, thiếu thốn chồng chất do thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm và thiếu đất canh tác của bà con.
Ông Đặng Văn Quý đang sửa chiếc máy thuỷ điện của gia đình
Khe Táo có 14 hộ dân với 69 nhân khẩu đều là người dân tộc Dao. Khe Táo được hình thành đầu những năm 80 thế kỷ trước do những hộ có cuộc sống thiếu thốn từ các mỏm núi, sườn đồi ở khắp xã Đồng Sơn di cư vào khai hoang, lập bản. Hơn chục năm sống cuộc sống du canh, du cư, phát nương làm rẫy hoặc lên rừng khai thác nhựa thông, quả trám, săn bắt chim, thú kiếm cái ăn hàng ngày. Thế rồi việc phát nương làm rẫy cũng bị cấm, gần chục năm trở lại đây, người dân đã chuyển sang trồng lúa nước bằng việc khai hoang các diện tích đất ở các khu vực thung lũng, gần nguồn nước suối. Đến nay, tổng diện tích đất nông nghiệp của thôn cũng đã có khoảng gần 3 ha. Nếu tính trung bình, mỗi gia đình chỉ có vài sào ruộng canh tác. Thế nhưng, trong đó chỉ có hơn một nửa có thể canh tác 2 vụ/năm nên cuộc sống nghèo còn bám riết lấy các hộ. Thêm vào đó, đường đi lại từ Khe Táo sang các thôn, bản khác vô cùng khó khăn, cuộc sống của bà con gần như tách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài. Do cách biệt như vậy, thời gian gần đây, các gia đình đã tận dụng dòng chảy của các khe suối lắp đặt các máy thuỷ điện nhỏ đưa điện về nhà sinh hoạt. Hiện tại cả 14 hộ đã có máy thuỷ điện nhỏ. Tuy khó khăn là vậy, nhưng nhiều gia đình đã chủ động tìm hướng thoát nghèo bằng những cách khác nhau. Ông Đặng Tằng Hiện là một trong số những người đầu tiên vào đốt nương làm rẫy để lập nên thôn Khe Táo. Năm nay ông đã hơn 70 tuổi, ông tâm sự: “Do khai hoang được nhiều ruộng nhất, nên gia đình tôi cũng đủ gạo ăn, tôi vẫn thường nhắc nhở con cháu phải chịu khó làm ăn; ngoài việc làm ruộng còn phải tích cực chăn nuôi vì thế lúc nào trong chuồng nhà tôi cũng có mấy con lợn và mấy chục con gà để cải thiện đời sống”. Còn anh Bàn Tài Khoa, khi nghe tin ngoài xã Tân Dân có nhiều hộ gia đình nuôi nhím làm giàu anh đã lặn lội ra tận nơi tìm hiểu, học hỏi kỹ thuật nuôi nhím và khi về anh mang theo 3 con nhím giống. Sau hơn một năm chăm sóc, đến nay 2 con nhím nhà anh đã chuẩn bị đẻ lứa thứ nhất.
Rời Khe Táo trên con đường ngoằn ngoèo, khúc khuỷu vắt trên những sườn núi, chúng tôi hiểu rằng, cuộc sống ở đây khó khăn chính là do sự đi lại cách trở như thế này. Thêm vào đó, tuy sống giữa núi rừng đại ngàn như vậy, nhưng người dân lại không thể dựa vào rừng núi để phát triển lâm nghiệp vì thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng. Cuộc sống chủ yếu trông chờ mấy thửa ruộng nhưng quanh năm thiếu nước. Thiết nghĩ, để giúp các gia đình Khe Táo có điều kiện thoát khỏi đói nghèo thì các cấp, các ngành của địa phương cần có những chính sách hỗ trợ hợp lý về giống, vốn, kỹ thuật canh tác và đầu tư xây dựng hệ thống thuỷ lợi. Về lâu dài, huyện Hoành Bồ nên tính toán để sắp xếp lại các điểm thôn, bản cho phù hợp với việc đầu tư cơ sở hạ tầng. Còn nếu cứ để các khe bản chỉ với hơn chục hộ dân sinh sống như Khe Táo, Khe Càn... cách xa nhau như hiện nay, thì giải “bài toán” xoá đói giảm nghèo là vô cùng khó khăn.