PEDC là tên viết tắt của Dự án “Hỗ trợ giáo dục tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn” do Bộ GD-ĐT quản lý. Đây là dự án lớn, có tổng nguồn vốn 247 triệu USD (hơn 4.000 tỷ VND), gồm vốn từ chương trình hợp tác của Canada, Na Uy, Australia, Anh, vốn vay của Ngân hàng Thế giới, vốn đối ứng của Chính phủ.
Quảng Ninh là 1 trong 40 tỉnh, thành được hưởng hỗ trợ từ Dự án này. Dự án bao gồm rất nhiều nội dung, trong đó quan trọng nhất là hỗ trợ các tỉnh xây dựng các điểm trường tiểu học ở những xã vùng sâu, vùng xa, nhằm tạo điều kiện tốt nhất để trẻ em những nơi này được đến trường như mọi trẻ em nơi khác. Với ý nghĩa đó, từ khi triển khai đến nay (năm 2005), PEDC đã góp phần không nhỏ rút ngắn khoảng cách giáo dục giữa các vùng, miền.
Nhờ có dự án PEDC mà trẻ em dân tộc vùng khó được học trong những lớp học, ngôi trường khang trang như thế này.
Quảng Ninh có 4 địa phương miền núi nhiều khó khăn là: Ba Chẽ, Tiên Yên, Bình Liêu, Móng Cái được Bộ GD-ĐT phê duyệt cấp kinh phí triển khai Dự án. Móng Cái hiện là một thành phố du lịch, thương mại, nhưng cũng còn nhiều xã miền núi, nằm giáp biên giới nước láng giềng Trung Quốc (Hải Sơn, Bắc Sơn). 3 huyện còn lại có tới trên 90% số xã là miền núi, vùng cao. Nhiều người đã từng so sánh: Nếu như đường từ TP Hạ Long đến trung tâm các huyện miền núi gian nan vất vả 1, thì từ đây đến các xã còn gian nan gấp 10 lần, chưa kể đến từng thôn, bản trong các xã. ở Ba Chẽ, Tiên Yên, Bình Liêu, Móng Cái có những thôn, bản chỉ cách trung tâm xã chừng 10-12km, nhưng phải mất một vài ngày mới vào đến nơi, bởi phải đi bộ chui rừng, trèo đèo, lội suối. Những hôm mưa to, nước lũ trên thượng nguồn đổ xuống, những thôn, bản này thường xuyên bị cô lập. Do điều kiện đi lại khó khăn như vậy, nên nhiều thôn, bản chưa có lớp học. Nơi nào “sang” lắm thì có phòng học tạm hoặc nhà cấp 4 đã xuống cấp, còn không thì phải đi học nhờ phòng công vụ của các xã. Đó cũng là một trong những nguyên nhân chính khiến trẻ em những nơi này không đến trường hoặc có đến cũng chỉ được vài buổi lại bỏ học.
Tìm lời giải cho bài toán phát triển giáo dục vùng khó, rút ngắn khoảng cách thiệt thòi cho học sinh vùng dân tộc, Quảng Ninh đã được Bộ GD-ĐT phân khai gần 120 tỷ đồng (ban đầu là hơn 30 tỷ đồng, nhưng nhờ triển khai Dự án có hiệu quả, Quảng Ninh đã đề nghị Bộ GD- ĐT, Ban Điều hành dự án T.Ư điều tiết kinh phí của các tỉnh, thành khác không thể triển khai được dự án cho tỉnh) để xây dựng các điểm trường; bồi dưỡng đạt trình độ chuẩn cho toàn bộ cán bộ quản lý và giáo viên tiểu học; vận động cộng đồng (từ thôn, bản đến xã) tham gia công tác giáo dục; hỗ trợ SGK, trang thiết bị dạy và học cho giáo viên, học sinh… Từ năm 2005 đến năm 2009, Ban Điều hành dự án Quảng Ninh đã xây dựng mới 99 điểm trường. Mỗi điểm trường có từ 3-4 phòng học, phòng giáo viên, nhà vệ sinh, bể nước theo đúng tiêu chuẩn và mẫu thiết kế của Dự án, được trang bị bàn, ghế, bảng chống loá, điện thắp sáng, quạt mát. Đồng chí Lê Đình Hưng, Trưởng Phòng GD Tiểu học (Sở GD-ĐT), Phó Ban Điều hành dự án tỉnh cho biết: “Để đảm bảo Dự án triển khai có chất lượng, hiệu quả, khi tiến hành nghiệm thu, Ban đã mời đại diện lãnh đạo xã, thôn, hiệu trưởng các trường và cơ quan tư vấn thiết kế, giám sát cùng tham gia ý kiến và có quyền đề nghị đơn vị thi công làm lại từ chi tiết nhỏ, nếu thấy chưa hợp lý. Vì vậy các điểm trường xây dựng từ năm 2005 đến nay đều có chất lượng tốt, không có sự cố”. Thực hiện các nội dung khác của Dự án, Quảng Ninh đã tổ chức tập huấn cho hàng trăm lượt cán bộ, giáo viên tiểu học của 4 huyện hưởng thụ Dự án về những nội dung: Cấu tạo chương trình SGK mới; đổi mới phương pháp quản lý, giảng dạy; nội dung, nghiệp vụ vận động cộng đồng tham gia giáo dục. Trên cơ sở đó, các trường đã triển khai đến các thôn, bản. Đến nay, các thôn, bản đều có kế hoạch tham gia và phối hợp với các thầy, cô giáo để giáo dục học sinh; 100% số học sinh ở những nơi này đã có góc học tập trong nhà đủ ánh sáng và yên tĩnh; đồng thời, các bậc phụ huynh cũng chủ động tăng cường nói tiếng Việt và dạy tiếng Việt cho các em tại nhà. Các em học sinh dân tộc ở các điểm trường được cấp phát đủ SGK, thiết bị dạy và học.
Một trong những cái hay và được nữa của Dự án, là đào tạo và sử dụng có hiệu quả đội ngũ “tình nguyện viên” làm trợ giảng cho các lớp học. Các nhân viên trợ giảng đều là người dân bản xứ, thông thạo tiếng Việt và tiếng dân tộc, am hiểu phong tục, tập quán và thói quen của bà con nhân dân trong thôn, bản; được tập huấn, bồi dưỡng phương pháp sư phạm, để giúp giáo viên trực tiếp đứng lớp truyền đạt kiến thức cho học sinh thông qua 2 thứ tiếng. Cô giáo Phạm Hồng Thắm, Hiệu phó Trường Tiểu học Phong Dụ II (Tiên Yên) - Trường có 3 điểm trường được Dự án hỗ trợ khẳng định: “Từ ngày có nhân viên trợ giảng giúp giáo viên, chất lượng giáo dục có sự thay đổi trông thấy. Các em đi học đều đặn hơn, giảm hẳn tỷ lệ bỏ học”.
Các điểm trường lẻ được xây dựng tại nhiều thôn, khe bản miền núi với mục tiêu “thầy tìm trò, trường gần dân” với hàng trăm nhân viên hỗ trợ giáo viên giảng dạy, đã góp phần xoá dần khoảng cách giáo dục giữa các vùng, miền. Việc xây dựng phòng học kiên cố còn góp phần đẩy nhanh tiến độ kiên cố hoá trường, lớp học ở miền núi; mang lại cho học sinh vùng khó cơ hội được học trong những ngôi trường khang trang, tiện nghi đầy đủ, gần nơi các em sinh sống. Có điều kiện học tốt, tỷ lệ học sinh bỏ học tại các huyện miền núi giảm hẳn. Điều này góp phần không nhỏ duy trì và giữ vững kết quả phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi của các địa phương trong tỉnh.
6 năm, thời gian chưa dài, nhưng cũng đủ để thay đổi diện mạo của giáo dục tiểu học vùng khó. Các em không phải nghỉ học, không còn phải chen nhau trong những lớp học tranh tre, dột nát. Điều kiện dạy và học được cải thiện, chắc chắn rằng chất lượng giáo dục ở các địa phương này còn tiếp tục được nâng lên.