Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam từ ngày 1-9-1858 nhưng phải đến ngày 6-6-1884, sau Điều ước Patơnốt với triều đình Huế “Nước An Nam thừa nhận và chấp nhận nền bảo hộ của nước Pháp. Nước Pháp sẽ thay mặt nước An Nam trong mọi mối quan hệ đối ngoại”, Pháp mới chính thức đặt ách cai trị thực dân trên đất nước ta.
Như vậy, vào cuối thế kỷ thứ XIX, đầu thế kỷ thứ XX, thực dân Pháp đã áp đặt chế độ cai trị về chính trị và khai thác thuộc địa theo lối tư bản, tạo nên sự biến đổi sâu sắc về cơ cấu xã hội Việt Nam vốn thuần khiết của xã hội phong kiến trở thành xã hội thực dân nửa phong kiến. Theo đó, cùng với đông đảo giai cấp nông dân bị bần cùng hóa, xuất hiện thêm giai cấp tư sản dân tộc và đặc biệt là giai cấp công nhân Việt Nam ra đời và ngày càng lớn mạnh. Do bị bóc lột đến cùng cực, giai cấp công nhân đã sớm được giác ngộ tinh thần yêu nước, tinh thần đấu tranh giai cấp và tiếp nhận tư tưởng cách mạng tiên tiến đã trở thành cơ sở xã hội quan trọng, tập hợp sức mạnh của toàn dân tộc cho cuộc đấu tranh chống xâm lược và xây dựng đất nước.
Với truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, ngay từ khi Pháp xâm chiếm nước ta, phong trào chống Pháp của nhân dân ta diễn ra liên tục, sôi nổi, quyết liệt và rộng khắp. Tất cả các cuộc đấu tranh đó đều phản ánh ý chí, khát vọng đánh đuổi Thực dân Pháp giành độc lập, tự do cho đất nước.
Tuy nhiên, vấn đề quan trọng đối với mỗi cuộc đấu tranh đó là đưa đất nước đi theo con đường nào: xây dựng chế độ phong kiến như trước đây? hay xây dựng chế độ xã hội theo khuynh hướng dân chủ tư sản (theo gương cách mạng Tân Hợi Trung Quốc năm 1911, phong trào Duy Tân của Nhật Bản năm 1868, Cách mạng tư sản Pháp năm 1789)? hay con đường XHCN của cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917?
Lịch sử cách mạng Việt Nam đã từng diễn ra sự lựa chọn những con đường đó: Phong trào Cần Vương do vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết lãnh đạo ngót 10 năm ròng cũng thất bại sau cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng, kể cả sự thất bại của cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế dưới sự lãnh đạo của Hoàng Hoa Thám; Phong trào theo xu hướng dân chủ tư sản của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Nguyễn Thái Học… với các cuộc cải cách, canh tân, xây dựng đất nước tiến bộ, phồn vinh nhưng đều “không lấy một lần thành công!”. Tất cả các cuộc đấu tranh thất bại là do thiếu cương lĩnh, đường lối chính trị đúng đắn để giải quyết triệt để mâu thuẫn của xã hội; không tập hợp được sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc; thiếu phương pháp đấu tranh thích hợp và đặc biệt là thiếu một tổ chức đủ mạnh có khả năng tập hợp, giác ngộ và dẫn dắt phong trào.
Nguyễn Ái Quốc, mang trong mình khát vọng cháy bỏng là giải phóng dân tộc đã ra đi tìm đường cứu nước với một ý thức rõ ràng: “Tôi muốn đi ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta”. Gần 10 năm, sau khi bôn ba nhiều nước, làm nhiều nghề để kiếm sống, học tập, tìm hiểu, đấu tranh, rồi đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, Nguyễn Ái Quốc từ người tìm đường đã trở thành người dẫn đường cho cách mạng Việt Nam. Đó là con đường cách mạng vô sản, gắn liền giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp những người lao động, giải phóng xã hội, giải phóng con người.
Đó là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử.
Khi đã tìm được “cẩm nang” về con đường cách mạng Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã tham gia vào nhiều hoạt động chính trị quan trọng nhằm lên án chế độ thực dân phong kiến, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế, thu hút, giác ngộ, tổ chức lực lượng cách mạng, vận động thành lập Đảng. Tiêu biểu là Yêu sách 8 điểm tháng 6-1919, sáng lập Báo Thanh niên 21-6-1921, Cuộc kháng chiến năm 1924, Bản án chế độ thực dân Pháp năm 1925, thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên 6-1925, đặc biệt là Đường cách mệnh năm 1927.
Đường Cách mệnh là một bộ giáo trình cô đọng, phác thảo về những nét cơ bản của đường lối cách mạng Việt Nam trên cơ sở lý luận cách mạng XHCN đã được chính Người trực tiếp biên soạn và giảng dạy cho các lớp học lý luận chính trị theo trường phái Mácxít đầu tiên. Hàng trăm thanh niên yêu nước đã tốt nghiệp các lớp huấn luyện tại tỉnh Quảng Châu, Trung Quốc sau này trở thành những người cách mạng kiên trung, lãnh tụ xuất sắc của Đảng. Đó là sự chuẩn bị chu đáo, tích cực cho sự ra đời của Đảng cộng sản. Người viết: “Cách mệnh trước hết phải có cái gì? Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam.
Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin.”
Khi phong trào cách mạng trong nước đang lên cao và có sự chuẩn bị về tư tưởng, chính trị, từ tiền thân của các tổ chức thanh niên yêu nước trước đây, các chi bộ đảng cộng sản lần lượt ra đời (Đông dương Cộng sản Đảng 17-6-1929 ở Bắc Kỳ; An Nam cộng sản Đảng 11-1929 ở Nam Kỳ và Đông Dương cộng sản liên đoàn 12-1929 ở Trung Kỳ). Mặc dù các tổ chức cộng sản trên đều thống nhất mục tiêu và con đường đấu tranh cách mạng, hướng theo lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nhưng đó vẫn là sự phân hóa về tổ chức cần sớm được thống nhất lại.
Trước tình hình đó, ngày 27-10-1929, Quốc tế cộng sản có Chỉ thị: “Nhiệm vụ quan trọng nhất và cấp bách nhất của tất cả những người cộng sản Đông Dương là thành lập một Đảng cách mạng có tính chất của giai cấp vô sản, nghĩa là một Đảng có tính chất quần chúng ở Đông Dương. Đảng đó phải chỉ có một và là tổ chức cộng sản duy nhất ở Đông Dương”.
Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc - ủy viên Bộ Phương Đông phụ trách Cục Phương Nam, phái viên của Quốc tế Cộng sản chủ trì tại Hương Cảng Trung Quốc từ ngày 3 đến 7-2-1930 trên cơ sở hợp nhất ba tổ chức cộng sản trong nước. Hội nghị đã nhất trí thông qua các văn kiện quan trọng: Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình vắn tắt của Đảng và Điều lệ vắn tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo.
Như vậy, Đảng ra đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Sự ra đời của Đảng đã tạo bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam.
80 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử trọng đại.
Mới chỉ sau 15 năm thành lập, Đảng đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành được chính quyền vào năm 1945, tuyên bố khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên trong lịch sử Việt Nam - nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Trước sự xâm lược trở lại của thực dân Pháp và các thế lực thù địch, Đảng tiếp tục lãnh đạo nhân dân vượt qua tình thế hiểm nghèo “ngàn cân treo sợi tóc” trong những ngày đầu của chính quyền non trẻ. Được sự ủng hộ của toàn dân tộc, Đảng lãnh đạo cuộc kháng chiến, kiến quốc với đường lối “toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính”, kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp bằng chiến dịch Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, bảo vệ và giữ chắc nền độc lập của Tổ quốc.
Với bản chất dã man, tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc, cho dù Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cố gắng hết mình, mong muốn không để xảy ra chiến tranh nhưng Việt Nam vẫn không tránh khỏi một cuộc đụng đầu lịch sử với đế quốc Mỹ ngông cuồng, hiếu chiến. Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân tiếp tục cuộc kháng chiến lâu dài chống Mỹ - kẻ thù mạnh về kinh tế và quân sự hơn ta rất nhiều lần. Cả dân tộc Việt Nam lại một lần nữa không tiếc xương máu, tài sản, tính mạng cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Toàn dân ta đã vượt qua bao gian khổ với những hy sinh vô cùng to lớn để làm nên đại thắng Mùa xuân năm 1975, kết thúc hoàn toàn cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do trọn vẹn trên cả nước.
Uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Toàn thế giới ngưỡng mộ Việt Nam - một dân tộc anh hùng. Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này được Liên Hợp quốc ra Nghị quyết công nhận “Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới”. Nhân dân cả nước, đặc biệt là hàng triệu chiến sĩ, trong đó có những đảng viên trung kiên của Đảng đã chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của dân tộc, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, làm cho mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng trở thành mối quan hệ máu thịt.
Bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong điều kiện đất nước vừa thoát ra khỏi cuộc chiến tranh tàn khốc, kiệt quệ cả về sức người, sức của, Đảng tiếp tục giữ vai trò lãnh đạo nhân dân tái thiết đất nước, hàn gắn vết thương chiến tranh, phát triển sản xuất, từng bước ổn định đời sống nhân dân.
Tuy nhiên, do sự lạc hậu về tư duy lý luận, việc duy trì quá lâu cơ chế tập trung quan liêu bao cấp là một trong những nguyên nhân làm cho nền kinh tế - xã hội đất nước đi vào tình trạng khủng hoảng, đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn. Hơn nữa, trong điều kiện Đảng lãnh đạo chính quyền, một bộ phận cán bộ, đảng viên tham nhũng, suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, làm cho niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng giảm sút chưa từng có. Sự lãnh đạo của Đảng đối với đất nước đang đứng trước những thách thức to lớn, đòi hỏi Đảng phải vượt lên chính mình.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 với “thái độ nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật”, Đảng đã thừa nhận “mắc phải những sai lầm chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan... những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện” và đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước.
Sự sụp đổ, tan rã của cả hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô vào đầu những năm 1990 làm cho một bộ phận không nhỏ đảng viên và nhân dân hoang mang, dao động, xuất hiện thêm những thách thức mới về mục tiêu lý tưởng và con đường đi lên CNXH ở nước ta. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII năm 1991 đã kịp thời đề ra Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, sau 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới với những bước đột phá về cơ chế, chính sách đã phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, tạo sự thay đổi to lớn về kinh tế - xã hội. “Đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, cải thiện một bước đời sống của nhân dân, giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng, an ninh được củng cố”. Quan hệ đối ngoại được mở rộng theo tinh thần “Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ đối ngoại với tinh thần Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”.
10 năm qua, với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và liên tục bình quân gần 7%/năm, Việt Nam đã thoát khỏi nhóm nước nghèo kém phát triển để trở thành nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp (nhóm nước có thu nhập từ 765 đến 3.385 USD/ người/năm - Việt Nam năm 2008 đạt 1.024 USD. Song, chỉ số HDI - chỉ số về phát triển con người là 0,774, đứng trong nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình). Việt Nam đã tham gia vào tổ chức thương mại quốc tế, có quan hệ với hầu hết các nước và khu vực trên thế giới. Thu hut vốn đầu tư nước ngoài tăng nhanh. Tình hình dân tộc, tôn giáo cơ bản ổn định, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Kiều bào ta ở nước ngoài ngày càng quan tâm hướng về xây dựng Tổ quốc do chính sách ngày càng rộng mở của Đảng và Nhà nước. Công tác xóa đói giảm nghèo và an sinh xã hội được coi trọng. Bộ mặt đô thị và nông thôn có nhiều đổi thay rõ nét. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện.
Năm 2010 sẽ là năm kinh tế đang trên đà phục hồi và tiếp tục phát triển nhưng vẫn còn đó những khó khăn về tính hiệu quả, sự bền vững của nền kinh tế, những vấn đề xã hội bức xúc như việc làm, đời sống, an toàn giao thông, an toàn vệ sinh thực phẩm, môi trường và đặc biệt là tình trạng tham nhũng chưa được ngăn chặn có hiệu quả.
Mặc dù Đảng ta đã xác định nhiệm vụ phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt nhưng trong thực tế, sự đổi mới trong công tác xây dựng Đảng chưa ngang tầm với đổi mới kinh tế - xã hội. Nhân dân đang mong đợi những tiến bộ, những bước đột phá trong công tác xây dựng Đảng thời gian tới.
Do đó, ngoài những nhiệm vụ thường xuyên nhằm xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, cần tập trung sức nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng và đảng viên, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong công tác cán bộ. Đảng đã có chủ trương tiến hành đại hội các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI. Đây là dịp tốt nhất để tổng kết thực tiễn, góp phần hoàn thiện đường lối, chủ trương của Đảng và để lựa chọn những cán bộ thực sự tiêu biểu cho trí tuệ, đạo đức của đội ngũ đảng viên vào các cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng. Việc thực hiện thí điểm đại hội trực tiếp bầu ban thường vụ, bí thư, phó bí thư đang thu hút sự quan tâm của toàn Đảng và toàn xã hội nhằm tăng cường dân chủ trực tiếp, phát huy trí tuệ tập thể. Đó cũng là trách nhiệm lớn lao của mỗi đại biểu dự đại hội trước Đảng, trước nhân dân.
Đồng thời, phải tiếp tục coi trọng việc thực hiện hai cuộc vận động lớn của Đảng: Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng tại Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII “Toàn Đảng tiến hành cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng” bắt đầu từ ngày 2-9-1999 đến 19-5-2001 sau đó trở thành nền nếp, thường xuyên của công tác xây dựng Đảng” và Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” theo Chỉ thị số 06 của Bộ Chính trị bắt đầu từ 3-2-2007 đến hết nhiệm kỳ khóa X của Đảng.
Với truyền thống vẻ vang 80 năm của Đảng và mối quan hệ gắn bó máu thịt với nhân dân trong sự nghiệp cách mạng, chắc chắn toàn Đảng và toàn dân ta sẽ thực hiện tốt di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Đảng: “Đảng ta một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thực sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.