Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ và các dự án động lực quy mô lớn đang từng bước kiến tạo diện mạo mới cho đặc khu Vân Đồn, có một cuộc cách mạng lặng lẽ nhưng vô cùng quyết liệt đang diễn ra tại các khu vực đảo - đó là cuộc cách mạng kiến tạo mô hình "Đảo xanh - Đảo sạch - Đảo phát triển". Với tầm nhìn chiến lược và tư duy đổi mới phương thức lãnh đạo, Đảng bộ đặc khu Vân Đồn đã cụ thể hóa các nghị quyết của Trung ương và Tỉnh ủy, biến chủ trương "Không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng ngắn hạn" thành một cuộc cách mạng sinh thái sâu rộng. Những kết quả đạt được không chỉ góp phần bảo vệ môi trường và hệ sinh thái biển, đảo mà còn xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc, tạo nền tảng cho phát triển kinh tế biển bền vững gắn với giữ vững quốc phòng, an ninh trên địa bàn đặc khu.
Nền tảng tư tưởng và tư duy chiến lược "Không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng ngắn hạn"
Sự chuyển dịch mô hình phát triển tại Vân Đồn không phải là kết quả của những thay đổi mang tính tự phát hay ngắn hạn, mà là kết tinh của một quá trình tư duy chiến lược, được dẫn dắt bởi tầm nhìn vĩ mô của Đảng. Thực hiện Nghị quyết số 1679/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đặc khu Vân Đồn chính thức được thành lập trên cơ sở chuyển nguyên trạng huyện Vân Đồn với diện tích 2.171,33km² (trong đó diện tích vùng biển lên tới 1.587,41km²) và quy mô dân số 53.904 người. Vân Đồn có vị trí địa chính trị, địa kinh tế chiến lược đặc biệt quan trọng, được đặt trong quy hoạch phát triển liên hoàn quốc gia và kết nối với quốc tế: Nằm trên tuyến trung chuyển từ Đông Á xuống Đông Nam Á, thuộc hành lang hợp tác “Hai hành lang - Một vành đai kinh tế” Việt Nam - Trung Quốc, trong khu vực hợp tác vịnh Bắc Bộ mở rộng và hành lang kinh tế Nam Ninh - Singapore; đồng thời nằm trong tam giác phát triển Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và chuỗi đô thị trung tâm vùng đồng bằng sông Hồng. Vị trí này tạo cho Vân Đồn lợi thế chiến lược, là điểm hội tụ và lan tỏa phát triển của khu vực Bắc Bộ cũng như cửa ngõ quan trọng của Việt Nam ra khu vực và thế giới (theo Đề án của Ủy ban MTTQ Việt Nam đặc khu Vân Đồn, 2026).
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của đặc khu Vân Đồn cao, tốc độ tăng giá trị sản xuất năm 2025 đạt 26,8% và thu nhập bình quân đầu người ước đạt 120 triệu đồng/năm (tương đương 5.190 USD/người). Hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư hiện đại, đồng bộ và có tính kết nối cao. Hàng loạt công trình mang tính biểu tượng như Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn, bến cảng cao cấp Ao Tiên, cao tốc Hạ Long - Vân Đồn - Móng Cái, cùng các siêu dự án nghỉ dưỡng tầm cỡ quốc tế như: Khách sạn 5 sao Angsana Quan Lạn, khu nghỉ dưỡng Wyndham Garden Sonasea đã định hình lại diện mạo kinh tế của vùng đất này (theo Đề án của Ủy ban MTTQ Việt Nam đặc khu Vân Đồn, 2026).
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu nổi bật về phát triển kinh tế - xã hội, quá trình phát triển cũng đang đặt ra nhiều thách thức đối với công tác bảo vệ môi trường và gìn giữ tài nguyên thiên nhiên. Đáng chú ý, hệ sinh thái tự nhiên quý giá của địa phương với trên 20.000ha rừng sản xuất, 7.300ha rừng ngập mặn, hệ thống rạn san hô có độ phủ từ 42,7% đến 57,1% nằm trong không gian di sản Vịnh Hạ Long và Vườn quốc gia Bái Tử Long, đang phải chịu áp lực ngày càng gia tăng từ rác thải sinh hoạt, rác thải nhựa và sự gia tăng dân số cơ học trong các mùa cao điểm du lịch (theo Đề án của Ủy ban MTTQ Việt Nam đặc khu Vân Đồn, 2026). Thực trạng này đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân nhằm bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu phát triển kinh tế với yêu cầu bảo vệ môi trường, hướng tới phát triển bền vững.
Nhận thức sâu sắc rằng môi trường sinh thái chính là "tài sản cạnh tranh cốt lõi", là nền tảng trực tiếp quyết định chất lượng dịch vụ, trải nghiệm của du khách, uy tín thương hiệu điểm đến và năng lực thu hút đầu tư lâu dài, Đảng bộ đặc khu Vân Đồn đã thể hiện vai trò lãnh đạo toàn diện, quyết liệt trong công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, tạo chuyển biến rõ nét trong nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị và nhân dân. Quan điểm phát triển này được quán triệt xuyên suốt từ Nghị quyết số 10-NQ/TU ngày 26/9/2022 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu đến năm 2030. Trên cơ sở đó, tỉnh Quảng Ninh kiên định thực hiện nguyên tắc phát triển hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường, giữ vững “lằn ranh đỏ” sinh thái, kiên quyết không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng ngắn hạn; đồng thời chuyển mạnh từ tư duy “xử lý hậu quả” sang “chủ động phòng ngừa, kiểm soát” các nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái môi trường. Tiếp nối định hướng chiến lược đó, Kết luận số 06-KL/TU ngày 12/12/2025 của Tỉnh ủy Quảng Ninh tiếp tục khẳng định chủ trương phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, khai thác hợp lý các giá trị di sản thiên nhiên gắn với bảo tồn đa dạng sinh học, qua đó biến lợi thế sinh thái thành động lực phát triển nhanh và bền vững cho địa phương trong giai đoạn mới.
Đặc biệt, việc giải bài toán môi trường tại đây còn mang đậm dấu ấn của Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Tỉnh Quảng Ninh đã cụ thể hóa thông qua việc xây dựng hệ giá trị con người Quảng Ninh với 8 phẩm chất đặc trưng, trong đó lấy "Thiên nhiên tươi đẹp" và "Môi trường văn minh" làm giá trị cốt lõi (Nghị quyết số 17-NQ/TU ngày 30/10/2023, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh). Tại đặc khu Vân Đồn, Ban Chấp hành Đảng bộ đã thể hiện rõ tư duy lãnh đạo đổi mới, không để các giá trị văn hóa dừng lại ở những khẩu hiệu mang tính tuyên truyền mà thay vào đó, các chuẩn mực văn hóa ứng xử với thiên nhiên, ý thức trách nhiệm cộng đồng và đạo đức sinh thái đã được cụ thể hóa thành các quy ước, hương ước ở khu dân cư, trở thành những chuẩn mực ứng xử thường nhật của mỗi người dân. Từ việc giữ gìn vệ sinh môi trường, thu gom rác thải, bảo vệ bãi biển, tuyến đường thôn, đến việc xây dựng nếp sống văn minh, tất cả đều được nâng lên thành biểu hiện cụ thể của lòng yêu quê hương, ý thức công dân và trách nhiệm đối với sự phát triển bền vững của địa phương. Qua đó, từng bước kiến tạo và lan tỏa văn hóa sinh thái mang đậm bản sắc địa phương, góp phần củng cố thế trận lòng dân và xây dựng một đặc khu phát triển xanh, bền vững, văn minh.
Nhận diện những "khoảng trống" thiết chế nơi tiền tiêu biển đảo
Sau quá trình sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính cấp xã năm 2025 và triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, năng lực lãnh đạo, quản lý của hệ thống chính trị tại đặc khu Vân Đồn đã được củng cố theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Tuy nhiên, với đặc thù địa bàn biển đảo rộng lớn, phân tán và chịu sự chia cắt bởi không gian biển, công tác quản trị môi trường nơi đây đang lộ rõ những "khoảng trống" do áp lực địa lý, phương tiện di chuyển phụ thuộc vào tàu thuyền và thời tiết. Khoảng trống quản trị môi trường tại các khu vực đảo không đơn thuần là sự thiếu vắng các thùng rác hay lò đốt, mà là sự đứt gãy trong hệ sinh thái phối hợp giữa các chủ thể. Chi phí logistics để cung cấp dịch vụ công ích ra các khu vực đảo còn cao do địa bàn phân tán, khoảng cách xa và quy mô dân cư thưa thớt. Cùng với đó, tình trạng người dân sử dụng đồ nhựa, túi nilon trong sinh hoạt và kinh doanh dịch vụ vẫn còn phổ biến; việc thay đổi hành vi, thói quen sử dụng đồ nhựa chưa hoàn toàn triệt để - tạo ra một lực cản khổng lồ đối với công cuộc chuyển đổi vật liệu thân thiện với môi trường.
Bên cạnh đó, công tác truyền thông còn theo chiến dịch, thiếu duy trì thường xuyên; ứng dụng công nghệ thông tin và tiếp cận nền tảng số của người dân còn hạn chế; cơ chế khuyến khích, hỗ trợ chuyển đổi xanh và cơ chế kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm chưa đủ mạnh, chưa tạo được động lực và ràng buộc đồng bộ để hài hòa lợi ích kinh tế ngắn hạn với mục tiêu bảo vệ môi trường lâu dài.
Đổi mới phương thức lãnh đạo: Rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm
Để hàn gắn những vết đứt gãy thiết chế và lấp đầy các khoảng trống quản trị, Đảng bộ đặc khu Vân Đồn xác định chìa khóa nằm ở việc đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo. Vận dụng sáng tạo Quyết định số 217-QĐ/TW và 218-QĐ/TW của Bộ Chính trị về giám sát, phản biện xã hội, Đảng bộ đã thiết lập một mạng lưới "quản trị chéo" độc đáo, nơi các tổ chức chính trị - xã hội được trao quyền tự quản, kích hoạt động lực nội sinh phù hợp với thế mạnh của từng đơn vị.
Sự phân vai quản trị sinh thái này không phải là sự phân cấp mang tính khoán trắng, mà được đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của cấp ủy Đảng và sự điều hành thống nhất của chính quyền địa phương. Các chi bộ cơ sở trực thuộc Đảng bộ đặc khu Vân Đồn giữ vai trò hạt nhân lãnh đạo; bí thư chi bộ thôn, khu chính là người đưa tiêu chí môi trường vào nghị quyết chi bộ, vào hương ước, quy ước thôn khu dân cư, qua đó cụ thể hóa chủ trương của Đảng thành ý thức tự giác và hành động thiết thực của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trên nền tảng đó, năm tổ chức chính trị - xã hội được giao chủ trì năm khu vực đảo tách biệt, phù hợp với thế mạnh của từng tổ chức.
Tại Bản Sen, Hội Nông dân chủ trì đảo Bản Sen tập trung rà soát, xây dựng các mô hình điểm gắn với sản phẩm OCOP và sinh kế bền vững. Hội vận động nông dân phát triển sản xuất sạch, nuôi trồng thủy sản thân thiện với môi trường, xây dựng cảnh quan khu dân cư sáng - xanh - sạch - đẹp, triển khai mô hình xử lý rác hữu cơ và thu gom bao bì vật tư ngư nghiệp sau khi sử dụng để xóa bỏ tình trạng xả rác ra vụng biển.
Trong khi đó, Hội Liên hiệp Phụ nữ chủ trì đảo Minh Châu đã phát huy phong trào “5 không, 3 sạch” gắn với văn minh du lịch. Hội tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động hội viên và nhân dân phân loại rác tại nguồn, giảm rác thải nhựa thông qua chiến dịch “Đổi rác lấy quà”, xây dựng các tuyến đường hoa, mô hình “homestay xanh”, “nhà hàng xanh”, tổ phụ nữ tự quản vệ sinh giữ gìn bãi biển sạch, biến văn hóa ứng xử thân thiện thành sản phẩm du lịch hút khách, góp phần xây dựng hình ảnh đảo Minh Châu là điểm đến an toàn, thân thiện, văn minh và hấp dẫn.
Trên "mặt trận" chuyển đổi số tại Quan Lạn, Công đoàn chủ trì đảo Quan Lạn tuyên truyền, vận động đoàn viên, người lao động và các cơ sở kinh doanh dịch vụ giữ gìn cảnh quan tại khu du lịch, cảng, bãi biển. Đặc biệt, Công đoàn chủ trì phối hợp triển khai các nội dung chuyển đổi số gắn với xây dựng “đảo thông minh” tại Quan Lạn; tập trung vào tuyên truyền thanh toán số, mã QR điểm đến, hệ thống phản ánh hiện trường số, camera giám sát tại các khu vực trọng điểm, đào tạo kỹ năng số và ngoại ngữ cơ bản cho người lao động.
Trên địa bàn giàu truyền thống cách mạng và gắn với nhiều giá trị lịch sử, văn hóa, Hội Cựu chiến binh chủ trì địa bàn đảo Ngọc Vừng phát huy phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ", vai trò nêu gương và tinh thần kỷ luật trong bảo vệ môi trường, giữ gìn cảnh quan và xây dựng đời sống văn hóa. Trọng tâm là xây dựng các mô hình tự quản về môi trường, an ninh trật tự, nếp sống văn minh; đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân bảo tồn các giá trị lịch sử, văn hóa, góp phần xây dựng đảo Ngọc Vừng xanh, sạch, đẹp và phát triển bền vững.
Địa bàn đảo Thắng Lợi, màu áo xanh của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đặc khu đã phát huy vai trò xung kích, sáng tạo của tuổi trẻ, Đoàn Thanh niên hành động như lực lượng phản ứng nhanh, tổ chức các chiến dịch tình nguyện "biển sạch", kích hoạt khát vọng khởi nghiệp xanh và trực tiếp mở các lớp phổ cập kỹ năng số, hỗ trợ người dân sử dụng mã QR, thanh toán số, quảng bá sản phẩm trên nền tảng số; khơi dậy tinh thần đổi mới sáng tạo, khát vọng khởi nghiệp xanh; góp phần xây dựng đảo Thắng Lợi trở thành địa bàn biển đảo xanh, thông minh và phát triển bền vững.
Để Đề án được triển khai đồng bộ, hiệu quả và đạt mục tiêu đến năm 2030, Đảng bộ đặc khu xác định việc xây dựng cơ chế quản lý, sử dụng nguồn lực công khai, minh bạch, đúng quy định là yêu cầu xuyên suốt. Theo đó, nguồn vốn ngân sách nhà nước theo quy định của Luật Đầu tư công, tập trung cho các nhiệm vụ trọng tâm, có tính dẫn dắt; đồng thời đẩy mạnh huy động các nguồn lực xã hội hóa từ doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư nhằm tạo thêm động lực, nâng cao hiệu quả thực hiện Đề án.
Cùng với việc bảo đảm kỷ cương tài chính, Đảng bộ và chính quyền đặc khu chú trọng phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong giám sát quá trình tổ chức thực hiện. Ủy ban MTTQ Việt Nam đặc khu và các tổ chức chính trị - xã hội tăng cường ứng dụng công nghệ số, đa dạng hóa các kênh tiếp nhận thông tin, phản ánh và giám sát của nhân dân; kịp thời tổng hợp ý kiến, kiến nghị; góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả quản lý nhà nước. Đây vừa là giải pháp quan trọng để củng cố niềm tin của nhân dân, vừa tạo sự đồng thuận xã hội, bảo đảm Đề án được triển khai thực chất, hiệu quả và bền vững.
Bài học vô giá về năng lực cầm quyền trong kỷ nguyên mới
Nhìn lại hành trình hiện thực hóa Đề án "Đảo xanh - Đảo sạch - Đảo phát triển" tại 5 đảo tiền tiêu Bản Sen, Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc Vừng, Thắng Lợi, bài học kinh nghiệm sâu sắc nhất được rút ra là sự chủ động, sáng tạo của Đảng bộ đặc khu Vân Đồn trong việc cụ thể hóa các Nghị quyết mang tầm chiến lược của Đảng thành các chương trình hành động thiết thực, gắn chặt với lợi ích của nhân dân.
Thông qua cơ chế giao nhiệm vụ rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và quyền làm chủ của nhân dân trong giám sát, phản biện xã hội; đồng thời đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số trong công tác quản lý, điều hành và giám sát, Đảng bộ đặc khu Vân Đồn đã huy động hiệu quả sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, tạo động lực nội sinh cho phát triển xanh và bền vững.
Thực tiễn triển khai đã khẳng định hiệu quả của mô hình quản trị phát triển theo hướng lấy bảo vệ môi trường làm nền tảng, chuyển đổi số làm công cụ và sự tham gia của nhân dân làm yếu tố quyết định. Đây không chỉ là giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương mà còn thể hiện tư duy phát triển mới của Đảng bộ đặc khu Vân Đồn: Kiên định quan điểm không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng ngắn hạn, phát triển kinh tế phải gắn với bảo vệ tài nguyên, gìn giữ hệ sinh thái và không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Đó cũng là thước đo quan trọng của năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của tổ chức đảng và hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị trong giai đoạn phát triển mới.