Chiều 25-11, Quốc hội họp phiên toàn thể thảo luận dự án Luật bảo vệ môi trường (sửa đổi). Tham gia phát biểu, Đoàn ĐBQH tỉnh có đại biểu Trần Văn Minh, Phó trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh.
Đại biểu Trần Văn Minh tán thành với báo cáo thẩm tra của Ủy ban KHCN&MT của Quốc hội và đồng tình với hướng tiếp thu của Ban soạn thảo về nhiều nội dung như: Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, nguyên tắc BVMT; dự kiến bổ sung các qui định về kiểm tra xác nhận sau đánh giá tác động môi trường, thành lập các Hội đồng thẩm định ĐTM, nội dung quản lý Nhà nước và trách nhiệm về Bảo vệ môi trường; Đưa trở lại nội dung về cam kết BVMT; Cụ thể hơn danh mục nhóm phế liệu được nhập khẩu, quy chuẩn kỹ thuật môi trường đối với phế liệu được phép nhập khẩu để khắc phục những tồn tại thời gian qua; Chỉnh sửa các qui định về nguồn lực BVMT cho phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành; Sửa đổi thời hiệu khởi kiện về môi trường được tính từ thời điểm phát hiện thiệt hại. Đồng thời, đại biểu cũng tham gia thêm một số nội dung sau.
Về đối tượng phải đánh giá môi trường chiến lược (Điều 8), đại biểu đồng ý với việc bỏ kế hoạch ra khỏi đối tượng phải đánh giá môi trường chiến lược, chỉ để lại nội dung chiến lược và quy hoạch. Dự thảo đề cập đến vùng kinh tế, hành lang kinh tế, vành đai kinh tế, tỉnh, thành phố thuộc Trung ương nhưng còn thiếu đối tượng là đơn vị Hành chính - Kinh tế đặc biệt, đây là một thể chế hành chính mới dành được nhiều sự quan tâm của ĐBQH tại dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, sẽ được hình thành trong một tương lai rất gần. Đại biểu cũng đề nghị bổ sung thêm đối tượng phải thực hiện ĐMC gồm cả chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH của các đơn vị Hành chính – Kinh tế đặc biệt để Luật bao trùm được các đối tượng phải chi phối, có sức sống lâu dài.
Ở Khoản 3 quy định về chiến lược, quy hoạch phát triển Khu kinh tế, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao, Khu công nghiệp, Khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ...; Khoản 4 quy định chiến lược, quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực ở cả cấp tỉnh và Khoản 6 quy định quy hoạch xây dựng đô thị. Theo đại biểu, qui định như dự thảo còn chung chung, cần có quy định cụ thể về quy mô của các đối tượng này một cách phù hợp để việc đánh giá môi trường chiến lược được thực chất, tránh trùng lặp, gây phiền hà về thủ tục hành chính và lãng phí.
Liên quan đến việc đánh giá tác động môi trường, đại biểu đồng ý về đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường được quy định ở Điều 13. Tuy nhiên, tại Khoản 3 cần bổ sung thêm cụm từ “Do Chính phủ quy định”; sau khi sửa, Khoản 3 sẽ là “Dự án có tác động xấu đến các thành phần môi trường và xã hội do Chính phủ quy định”, để làm rõ thẩm quyền về nội dung này, tránh tùy tiện và cũng là để bảo đảm tính chặt chẽ của văn bản Luật. Đại biểu cũng đồng ý các dự án được quy định tại Tiết a Khoản 1 Điều 14 phải được thực hiện ĐTM sơ bộ trong giai đoạn báo cáo đầu tư để tránh hiện tượng dự án phải lập báo cáo đầu tư, xin chủ trương đầu tư nhưng khi lập ĐTM lại phải đình chỉ dự án, gây lãng phí cho chủ đầu tư và xã hội. Một số ĐBQH băn khoăn là có phát sinh thêm thủ tục hành chính, theo đại biểu, việc lấy ý kiến bằng văn bản của Bộ TN&MT-mà thực chất là thẩm định ĐTM, là cần thiết vì khi đó ĐTM sơ bộ mới có độ tin cậy cao do được cơ quan chuyên ngành xem xét, nên khắc phục sự băn khoăn này bằng cách qui định chặt chẽ đối tượng phải lập ĐTM sơ bộ, tránh tràn lan gây khó khăn, lãng phí cho các chủ dự án.
Về tham vấn trong quá trình thực hiện ĐTM (Đ15) và cách thức tiến hành tham vấn (Đ16), đại biểu cho rằng, thực tế thời gian qua, tham vấn không được thực hiện hoặc thực hiện hình thức dẫn đến khi triển khai dự án có phát sinh nhiều vấn đề trong xã hội và cộng đồng dân cư. Nay theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của dự thảo Luật thì đối tượng tham vấn ĐTM còn hẹp, cách thức tiến hành tham vấn chưa thật sự cụ thể nên khó phát huy được đầy đủ tác dụng của tham vấn trong BVMT. Vì vậy, đại biểu đề nghị Ban soạn thảo thể hiện lại các quy định này theo hướng mở rộng đối tượng tham vấn và quy định cụ thể hơn cách thức tiến hành tham vấn để bảo đảm tính thiết thực, hiệu quả.
Về bảo vệ môi trường trong hoạt động thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản (Điều 53), tại Khoản 1, Tiết d, đại biểu đề nghị bỏ quy định các hoạt động thăm dò khoáng sản phải có kế hoạch cải tạo phục hồi môi trường do các hoạt động này cơ bản là không phá hủy địa hình, thảm thực vật; nhưng lại cần bổ sung cụm từ “và sau khi kết thúc” để bảo đảm quá trình cải tạo, phục hồi môi trường là liên tục và phù hợp với điều kiện sản xuất. Sau khi sửa, Tiết d sẽ là: Phải có kế hoạch cải tạo, phục hồi môi trường cho toàn bộ quá trình khai thác, chế biến khoáng sản và tiến hành cải tạo, phục hội môi trường trong và sau khi kết thúc quá trình khai thác và chế biến khoáng sản”.
Ở Khoản 3 quy định máy móc, thiết bị sử dụng trong thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản phải có chứng chỉ kỹ thuật (Chứng chỉ đạt tiêu chuẩn môi trường). Đại biểu đề nghị ban soạn thảo nghiên cứu quy định lại cho phù hợp vì các cơ sở thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản có thể có đến hàng trăm loại với số lượng đến hàng nghìn máy móc, thiết bị khác nhau mà trong đó có nhiều loại thiết bị sử dụng năng lượng điện không phát thải.
Liên quan đến vấn đề khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường (Điều 87), Khoản 2 quy định các dự án khai thác mỏ, khoáng sản phải xây dựng phương án khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt trước khi đi vào hoạt động. Đại biểu cho rằng, thực tế hiện nay, các dự án khai thác mỏ, khoáng sản đều đã phải lập và được phê duyệt ĐTM, đề án cải tạo phục hồi môi trường; Trong đó có các giải pháp phòng ngừa và khắc phục ô nhiễm, bảo vệ và cải thiện môi trường. Mặt khác, nếu các dự án này đã là đối tượng phải thực hiện ĐTM được quy định ở Điều 13 thì cần nghiên cứu loại bỏ quy định này để tránh chồng chéo, gây khó khăn cho doanh nghiệp.
Về khoảng cách bảo đảm an toàn, (Điều 45) về bảo vệ môi trường đối với Khu kinh tế, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao, Khu công nghiệp, Cụm công nghiệp, Khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung; Điều 46 về bảo vệ môi trường đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; Điều 61 về bảo vệ môi trường trong hoạt động mai táng, hỏa táng... đều có quy định các đối tượng có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường phải đảm bảo khoảng cách đáp ứng điều kiện vệ sinh môi trường đối với các khu dân cư, khu du lịch... Đại biểu cho rằng, dự thảo chưa quy định khoảng cách tối thiểu bảo đảm an toàn về môi trường là bao nhiêu và cũng không giao rõ cho cơ quan nào quy định việc này. Do vậy, cần nghiên cứu sửa đổi cho phù hợp, bảo đảm tính chặt chẽ của văn bản Luật.
Liên quan đến vấn đề trách nhiệm bảo vệ môi trường, Ban soạn thảo đã có báo cáo tiếp thu nhiều nội dung. Tuy nhiên, còn một số vấn đề, cũng cần được xem xét thêm, cụ thể:
Ở Điều 19, Điều 20 và Điều 129 quy định thiếu đồng bộ về thẩm quyền tổ chức thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường ở cấp tỉnh, cần nghiên cứu, xem xét chỉnh sửa cho phù hợp.
Tại Điều 35 về BVMT nguồn nước hồ, ao, kênh, mương, rạch, có quy định trách nhiệm của UBND cấp tỉnh đối với nội dung này. Theo đại biểu, nên xem xét phân cấp trách nhiệm này cho UBND cấp huyện, vì như vậy sẽ trực tiếp và thiết thực hơn.
Đối với Điều 129 liên quan đến trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của Ủy ban nhân dân các cấp, đề nghị bổ sung vào cuối Tiết a Khoản 1 nội dung “quy chuẩn kỹ thuật môi trường địa phương”, để nội dung này vừa phù hợp với Điều 100 của dự thảo và phù hợp quy định tại Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật số 68/2006/QH-11, việc ban hành quy chuẩn kỹ thuật môi trường địa phương có ý nghĩa hết sức quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường đối với các khu vực cần bảo vệ nghiêm ngặt như các khu di sản thiên nhiên thế giới...
Ngô Sỹ Khảo (VP Đoàn ĐBQH tỉnh & HĐND tỉnh)