Được chọn là năm xây dựng chiến lược, quy hoạch và khoa học công nghệ, năm 2012 tỉnh quyết định bố trí ngân sách 350 tỷ đồng cho lĩnh vực KH&CN. Đây được coi là sự đầu tư nguồn lực lớn nhất từ trước tới nay cho hoạt động KH&CN của tỉnh.
Ưu tiên cho những nhiệm vụ lớn
Theo đó, với nguồn đầu tư này, tỉnh bố trí theo cơ cấu như sau: Chương trình ứng dụng và chuyển giao tiến bộ KH&CN (118 tỷ đồng); xây dựng chính quyền điện tử (100 tỷ đồng); đối ứng triển khai các chương trình quốc gia về KH&CN (50 tỷ đồng); quỹ phát triển KH&CN tỉnh (50 tỷ đồng); xây dựng và phát triển thương hiệu sản phẩm (32 tỷ đồng). Để triển khai có hiệu quả nguồn vốn đầu tư cho KH&CN năm 2012, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo xây dựng cơ chế, chính sách, trong đó đã ban hành 6 văn bản về cơ chế, chính sách giúp cho công tác quản lý và triển khai hoạt động KH&CN. Đơn cử như các Quyết định số 237/QĐ-UBND ngày 13-2-2012 về việc ban hành “chương trình xây dựng và phát triển thương hiệu cho sản phẩm nông nghiệp của tỉnh Quảng Ninh đến năm 2015”; Quyết định số 1562/2012/QĐ-UBND ngày 25-6-2012 về “quy định quản lý, sử dụng vốn đầu tư cho KH&CN tỉnh Quảng Ninh”; Quyết định số 1023/QĐ-UBND ngày 7-5-2012 về việc “thành lập Quỹ phát triển KH&CN tỉnh”... Đây được coi là những văn bản quan trọng để triển khai nguồn vốn đầu tư cho KH&CN đúng mục đích, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Nhờ những cơ chế, chính sách này, đến nay, ngoài 23,71 tỷ đồng đã được phân bổ cho các dự án cụ thể chuyển tiếp từ năm 2011 tại Quyết định số 4168/QĐ-UBND; UBND tỉnh đã giao cho Sở Kế hoạch và Đầu tư cùng Sở Tài chính phối hợp với Sở KH&CN thống nhất xong về kế hoạch dự kiến phân bổ vốn trong đầu quý III cho các dự án mới. Trong đó, số vốn đã chuẩn bị để thực hiện đối ứng triển khai các chương trình quốc gia về KH&CN là 26,346 tỷ đồng; 16 dự án xây dựng và phát triển thương hiệu sản phẩm là 34,75 tỷ đồng (mức cao nhất từ trước đến nay và cao nhất trong cả nước); 9 dự án trong Chương trình ứng dụng và chuyển giao tiến bộ KH&CN là 190,965 tỷ đồng (trong đó tập trung cho các dự án ứng dụng KH&CN trong lĩnh vực giáo dục, y tế, quản lý đất đai, đô thị).
Đặc biệt, với việc UBND tỉnh ra quyết định thành lập Quỹ phát triển KH&CN, thì tỉnh đã bố trí vốn hoạt động ban đầu của Quỹ là 100 tỷ đồng, được phân bổ trong 3 năm kể từ khi thành lập theo kế hoạch và chương trình hoạt động của Quỹ được UBND tỉnh phê duyệt. Về việc xây dựng chính quyền điện tử, tỉnh đã hợp tác với tập đoàn thông tin hàng đầu của Việt Nam (FPT) để phối hợp xây dựng chính quyền điện tử của tỉnh nhằm cung cấp thủ tục, dịch vụ hành chính nhanh chóng, thuận tiện, minh bạch cho người dân và doanh nghiệp. Hiện nay, đề án đang được thẩm định triển khai, đảm bảo đến năm 2014 sẽ đưa hệ thống chính quyền điện tử của tỉnh vào hoạt động. Được biết, trước mắt, trong năm 2012, tỉnh sẽ tập trung xây dựng Trung tâm tích hợp dữ liệu, hạ tầng mạng diện rộng để kết nối liên thông các cơ quan của tỉnh và xây dựng phần mềm quản lý của các cơ quan đơn vị.
Đòn bẩy phát triển KH&CN
Rõ ràng, với việc bố trí kế hoạch phân khai kinh phí kịp thời, nhanh chóng, hoạt động KH&CN đã và đang có những bước đi thuận lợi. Điển hình như trong việc xây dựng và phát triển thương hiệu sản phẩm nông nghiệp. Ngay khi có quyết định phê duyệt chương trình Xây dựng và phát triển thương hiệu nông sản Quảng Ninh tới năm 2015 của UBND tỉnh với tổng kinh phí khai toán cho 16 dự án thực hiện trong năm 2012 là 42,75 tỷ đồng (trong đó nguồn ngân sách tỉnh là 34,75 tỷ đồng; ngân sách địa phương là 8 tỷ đồng), Sở KH&CN đã lập tức phối hợp với các đơn vị tư vấn khảo sát tại các địa phương có nông sản cần xây dựng và phát triển thương hiệu và các ngành có liên quan như Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công thương, Ban Xây dựng Nông thôn mới chủ động xây dựng kế hoạch, tuyên truyền, thực hiện đúng theo đúng lộ trình, các bước công việc. Đồng thời tích cực tuyên truyền, phổ biến kiến thức về sở hữu trí tuệ trên các phương tiện thông tin đại chúng, xây dựng webside hướng dẫn xây dựng, quản lý, phát triển và bảo vệ thương hiệu nông sản ở địa phương; quy hoạch vùng nguyên liệu sản phẩm (rau an toàn Quảng Yên, chè Đường Hoa...). Hay các hội sản xuất và kinh doanh (nếp cái hoa vàng Đông Triều và na dai Đông Triều) với tính chất hoạt động không vì lợi nhuận, với mục đích đoàn kết, giúp đỡ, hỗ trợ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên trong sản xuất, chế biến và kinh doanh sản phẩm gạo nếp cái hoa vàng, na dai của địa phương...
Có thể thấy rằng, với một khối lượng công việc lớn, nhiều hoạt động lại đòi hỏi tính mới, việc bố trí, phân khai kinh phí khẩn trương sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động KH&CN của tỉnh có những bước tiến mạnh mẽ, đảm bảo đúng tiến độ đề ra.
Lan Anh