Thêm nội lực cho tỉnh

Nhìn lại quá trình 55 năm song hành xây dựng và phát triển cùng Vùng mỏ, ngành GD-ĐT tỉnh đã có những bước đổi thay rất đáng kể.

Hệ thống trường, lớp phát triển hoàn chỉnh, đa dạng loại hình đào tạo; đội ngũ giáo viên tăng nhanh về số lượng và chất lượng; cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục liên tục được tăng cường đầu tư… Những điều kiện cơ bản ấy đã phần nào đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực cho tỉnh.

Thêm nội lực cho tỉnh ảnh 1
Mặc dù là trường miền núi nhiều khó khăn của huyện Tiên Yên nhưng nhờ có sự quan tâm của các cấp, các ngành và làm tốt xã hội hoá mà Trường Tiểu học Phong Dụ II vẫn có được những lớp học khang trang, thân thiện.

“Trồng người” luôn được xác định là “quốc sách hàng đầu” chính vì thế dù ở giai đoạn nào, điều kiện, hoàn cảnh nào ngành GD-ĐT tỉnh cũng luôn nhận được sự quan tâm của các cấp, các ngành và nhân dân trong tỉnh. Đầu tiên là quan tâm đầu tư để từng bước cải thiện cơ sở vật chất trường, lớp. Những năm 1990-1991, ở Quảng Ninh từng có các phong trào “trường - phường - xí nghiệp”; “ngói hoá trường học”, “xoá phòng học tranh tre, nứa lá”, “xoá lớp học ba ca”… Các phong trào này mang tính xã hội hoá cao vì đã huy động được sự tham gia đóng góp công sức, vật chất của đông đảo doanh nghiệp, phường, xã và nhân dân trong tỉnh. Sau các phong trào trên, ngành GD-ĐT tỉnh đã tham mưu cho UBND tỉnh thông qua nhiều đề án, chương trình như: “Kiên cố hoá trường, lớp, xây nhà công vụ cho giáo viên”; “xây dựng trường chuẩn quốc gia”. Hàng năm, tỉnh đều dành một phần lớn ngân sách để đầu tư xây dựng các trường học theo hướng kiến cố hoá, đạt chuẩn quốc gia. Thực hiện chủ trương xã hội hoá giáo dục của Đảng và Nhà nước, tỉnh cũng có nhiều hình thức vận động các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm trong, ngoài tỉnh đóng góp, hỗ trợ cho giáo dục dưới mọi hình thức như: Xây trường, tặng thiết bị các phòng học bộ môn, trao học bổng. Riêng năm học 2008-2009, kinh phí từ nguồn xã hội hoá giáo dục trên địa bàn tỉnh đạt khoảng 100 tỷ đồng. Cơ sở vật chất trường, lớp của ngành GD-ĐT tỉnh đã có những bước thay đổi căn bản. Từ chỗ xoá bỏ được nhà tranh tre, nứa lá, xoá bỏ tình trạng học ba ca, ngói hoá trường học, hầu hết các địa phương trong tỉnh đã tiến đến cao tầng hoá trường học; mỗi địa phương đều có ít nhất 2 trường đạt chuẩn quốc gia. Trong 5 năm trở lại đây toàn tỉnh đã thành lập mới 14 trường (trong đó, 4 trường công lập và 10 trường ngoài công lập), hệ thống TT hướng nghiệp và GDTX, Trung tâm học tập cộng đồng đã phủ kín tất cả các huyện, thị, thành phố, xã, phường, thị trấn trong tỉnh. Số trường đạt chuẩn quốc gia của tỉnh tăng hàng năm. Hiện cấp học mầm non có 12 trường, tiểu học: 98 trường (trong đó, 4 trường đạt chuẩn mức độ 2), THCS: 36 trường và THPT: 7 trường.

Không chỉ vậy, tỉnh còn xây dựng và thực thi nhiều chế độ, chính sách để tạo động lực cho ngành phát triển. Với việc thông qua “Đề án phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2008-2015 và định hướng đến năm 2020”, tỉnh đã đầu tư 9 tỷ đồng cho riêng cấp học mầm non xây dựng các lớp học ở các xã vùng sâu, vùng xa. Trước thực tế giáo viên “ngại” công tác ở miền núi, tỉnh đã có chế độ đãi ngộ và thu hút giáo viên; nâng mức hỗ trợ giáo viên mầm non hợp đồng trong các cơ sở giáo dục công lập. Với học sinh vùng khó khăn, tỉnh có chính sách hỗ trợ các em tham gia chương trình phổ cập GD THCS; hằng tháng hỗ trợ các em một phần kinh phí để theo học các lớp “nội trú dân nuôi”…

Đáp lại sự quan tâm của các cấp, các ngành và toàn xã hội, ngành GD-ĐT cũng nỗ lực từng ngày, từng tháng để khẳng định và nâng cao chất lượng giáo dục. Ngành đã triển khai rất nhiều biện pháp như: Nâng cao chất lượng, năng lực của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý (thông qua việc tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ, chính trị; tạo điều kiện để cán bộ, giáo viên được học tập, nghiên cứu nâng trình độ lên chuẩn và trên chuẩn); tổ chức toạ đàm, sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn, giới thiệu, trao đổi, thảo luận nhằm đổi mới phương pháp giảng dạy; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin; rà soát giúp đỡ học sinh yếu, kém, khắc phục bệnh thành tích và tình trạng học sinh ngồi nhầm lớp; đánh giá chất lượng học sinh đầu năm; triển khai tự đánh giá chất lượng giáo dục theo Bộ tiêu chuẩn đánh giá do Bộ GD-ĐT ban hành ở tất cả các trường học thuộc các cấp học từ tiểu học đến THPT, cao đẳng, đại học. Bên cạnh đó, ngành cũng tích cực tổ chức triển khai các phong trào thi đua của T.Ư, của tỉnh phát động để tạo ra động lực, nâng cao hiệu quả công tác dạy và học trong các cơ sở, đơn vị trường học. Có thể thấy rõ nhất trong 5 năm trở lại đây, ngành GD-ĐT luôn sôi nổi với các phong trào, các cuộc vận động: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; “Hai không” (với 4 nội dung: Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục; nói không với tình trạng học sinh ngồi nhầm lớp và tình trạng giáo viên vi phạm đạo đức); “Mỗi thầy, cô giáo là tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”; “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giáo dục và đổi mới công tác quản lý tài chính”; “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”… Những cuộc vận động, phong trào thi đua này đã tạo ra hiệu ứng tích cực cho công tác dạy và học. Nhờ thế, số học sinh bỏ học qua các năm đã giảm đáng kể; chất lượng giáo dục mũi nhọn, đại trà cũng như các kết quả công tác phổ cập giáo dục THCS, phổ cập tiểu học đúng độ tuổi được duy trì.  Từ năm 2005-2009, trung bình mỗi năm, số học sinh đoạt giải quốc gia của tỉnh luôn đạt từ 25 đến 35 em. Số thí sinh đỗ vào các trường ĐH, CĐ cũng tăng hàng năm (dao động trong khoảng trên, dưới 7.000 học sinh/năm)…

Đầu tư cho giáo dục chính là đầu tư cho tương lai. Sự quan tâm thích đáng của các cấp, các ngành và của toàn xã hội đối với ngành Giáo dục những năm qua đã thu được những kết quả đáng mừng. Với số lượng, trung bình mỗi năm có khoảng 1 vạn học sinh tốt nghiệp THPT, chưa kể các bậc học khác như TCCN, dạy nghề, cao đẳng, đại học sẽ góp phần không nhỏ vào nguồn nhân lực cho tỉnh để tham gia vào các hoạt động sản xuất, chính trị, văn hoá, xã hội.

Cùng chuyên mục