Vào một ngày mưa giữa tháng 7, chúng tôi có mặt ở những con suối chảy qua các khai trường khai thác than khu vực các phường Cẩm Sơn, Cẩm Thịnh, Cẩm Phú của TX Cẩm Phả. Mới 7 giờ mà lượng người đã đặc kín bên con suối đang cuộn chảy. Cơn mưa lớn đến từ đêm hôm trước khiến cho tất cả những người làm nghề đãi than trôi mong cho trời sáng, bởi cái nghề này “được mùa” nhất là vào những ngày mưa lớn.
Nhọc nhằn nghề đãi than trôi
Suối Máng Ga ở khu 6b, phường Cẩm Phú là nơi có lượng lớn than trôi từ khai trường khai thác than của Công ty CP Than Cọc Sáu. Con suối dài chừng vài cây số, nhưng có đến vài trăm người đổ về đây để đãi than. Có cả dân tứ xứ tới, nhưng phần lớn vẫn là dân trong vùng, đủ cả đàn ông, đàn bà, già có, trẻ có. Tất cả đều ướt sũng dưới cơn mưa như trút, một số người đàn ông chẳng hề mặc áo mưa, đánh độc chiếc quần đùi mà ngụp lặn. Đồ nghề của họ là một cặp thúng, sảo để đãi và đựng than, cộng thêm cái giá sắt 3 chân cao chừng 1m để đặt cái thúng lên trên đó.
Mới sáng sớm, số người đi đãi than trôi đã kín các con suối.
Nhiều người cho biết, đã đến đây từ 5 giờ, khi dòng nước đen ngòm cuộn chảy từ các bãi thải phía trên mang theo than, cát dồn xuống hạ lưu. Nước ngập đến ngang hông, chị Trần Thị Dinh (quê Thanh Hà, Hải Dương) cúi sát mặt xuống mép nước, vục cái sảo xuống dưới chân rồi vớt lên một nửa sảo cát, đá. Chỉ có một nắm than cục trong cái sảo lẫn lộn ấy được chị Dinh đãi ra sau vài động tác sàng đãi. Nhìn vào khuôn mặt ướt nhoà, đôi bàn tay trắng bệch sun lại vì ngâm lâu trong nước, chúng tôi tự hỏi để có đầy thúng than kia, chị phải vục mặt xuống nước bao nhiêu lần? “Nhưng còn hơn ở nhà làm ruộng. Chồng em làm công nhân ở Công ty Than Quang Hanh. Em theo nhà em ra đây làm được 2 năm rồi. Ngày nắng thì đi mót than ở đầu đường, bãi thải, ngày mưa thì xuống suối đãi than trôi. Cũng cực nhọc lắm nhưng còn kiếm được ra năm chục, một trăm ngàn mỗi ngày” - chị Dinh nói...
Theo anh Ngô Xuân Đạo (quê Quỳnh Phụ, Thái Bình), người có thâm niên hơn 4 năm làm nghề đãi than trôi ở phường Cẩm Sơn, TX Cẩm Phả, thu nhập của những người đi đãi than như vợ chồng anh trung bình mỗi ngày cũng được 50.000 đồng/người. Các bãi thải và suối than trôi mỗi ngày đem lại cho những người dân nghèo số tiền không nhỏ. “Thế nhưng để có được số tiền ấy đâu có dễ. Có đến bãi thải một ngày mới hiểu hết được nỗi cực nhọc mà những người lao động phải trải qua” - anh Đạo vừa oằn lưng ì ạch gánh 2 bao lẫn lộn than, cát vừa nói với chúng tôi như vậy.
Sản phẩm thu được sau một buổi mót than nơi đầu đường bãi thải.
Cuộc mưu sinh nơi đầu đường, bãi thải
Câu chuyện bên suối Máng Ga đã thúc chúng tôi tham gia vào cuộc kiếm sống của mấy trăm người mà từ nhiều năm nay lúc nào cũng gắn liền với những hòn than rơi vãi. Họ là những phận đời nghèo khó ở khắp mọi nơi từ Hải Phòng, Hải Dương đến Thái Bình, Nam Định...
Mặc cho các bãi thải đã bị vây kín bởi hàng rào sắt, hàng trăm người vẫn túc trực chờ cơ hội vượt qua để được vào mót nhặt than lẫn trong núi đất đá mà người ta đổ dày lên theo năm tháng. Tìm cho mình một cái bao dứa, chúng tôi gia nhập cùng nhóm người quê Thái Bình tìm cách vượt qua hàng rào sắt vào bên trong. Không hề dò xét xem chúng tôi là ai, nhóm người quê Thái Bình dường như đã quá quen thuộc với việc có “đồng nghiệp” mới đến đây kiếm sống. Chúng tôi làm quen nhau khá nhanh rồi cùng đi lên phía đỉnh núi, theo hướng mấy người đang lầm lũi lên, xuống. “Có rất nhiều người đổ về bãi thải của Công ty Than Đèo Nai để mót than, nhưng chẳng ai tranh giành ai bao giờ, vì phạm vi hoạt động quá rộng” - Thanh (tên một thanh niên trong nhóm) giải thích thắc mắc của chúng tôi, vì sao mà mỗi vách núi chỉ có một vài người? Đến vách núi đầu tiên, chúng tôi gặp một phụ nữ chừng trên 40 tuổi, quần áo ướt đẫm, đang cặm cụi đào bới đất để nhặt từng hòn than tí xíu. Chị tên là Nình Thị Thưng, dân tộc Nùng, ở tỉnh Bắc Giang mới xuống đây thuê trọ để theo người lên bãi thải nhặt than. Chị cho biết: “Cuộc sống ở quê khó khăn quá, nhà chỉ có vài chục cây vải và mấy sào ruộng trũng, nhưng năm nay vải giá thấp quá nên chẳng được bao nhiêu tiền. Chồng tôi bị tai nạn giao thông chết cách đây vài tháng, nên cuộc sống đã khó lại càng khó khăn hơn. Đang không biết làm gì để nuôi con, thì nghe người cùng làng bảo ra đây mót than. Thế là tôi liền gửi đám con nhỏ sang ông bà ngoại rồi theo ra đây”. Nhìn vào trong chiếc bao dứa nhàu nát của chị thấy có vài hòn than kíp lê, ước chừng được vài cân. Chị cười buồn: “Mới hôm đầu chưa quen, tôi nhặt cả xít, đến chỗ cân, người mua loại đi mất quá nửa”.
Mưa càng lúc càng to, con đường mòn dốc cao, càng trơn trượt. Leo chừng vài trăm mét nữa, đến một bãi rộng, chúng tôi thấy có rất nhiều người đang hì hụi đào, móc trong các kẽ đá. Nhóm người Thái Bình để chúng tôi ngồi nghỉ rồi tản ra vách núi. Một cậu bé đến ngồi nghỉ cạnh chúng tôi. Đó là Nguyễn Văn Hiệp, 16 tuổi, quê ở xã Thuỷ An, huyện Đông Triều. Hiệp kể: “Cháu có 2 anh em, năm nay cháu vào lớp 10. Bố cháu bị suy tim độ 3 mấy năm nay, nhà có gì cũng phải bán để chữa bệnh cho bố. Năm ngoái cháu đã ra đây nhặt than, kiếm được mấy triệu đồng. Năm nay tranh thủ nghỉ hè, cháu lại ra đây làm để lấy tiền phụ thêm gia đình”. Nghỉ chừng mấy phút, Hiệp lại vội vàng chạy đến quãng vắng người nhất để tiếp tục nhặt than...
Thật khó có thể tưởng tượng, hàng núi đất đá được các xe vận tải cỡ lớn đổ, nèn thành bãi thải, nay bị bới móc lên chỉ với đôi bàn tay nhỏ bé. Than mót được cho vào những chiếc bao dứa, nặng chừng 50 kg, giá các đầu mối thu mua ngay dưới chân núi từ 1.200 đến 2.000 đồng/kg kíp lê. “Thỉnh thoảng gặp bọn nghiện hút ép bán than cho chúng với giá thấp hơn nhiều” - Phạm Văn Quân than thở với chúng tôi trên đường đi xuống.
Bữa trưa của chúng tôi được “tổ chức” trong căn nhà trọ tồi tàn của nhóm người quê Thái Bình, chỉ có mì tôm và vài lát giò thái mỏng. Quân, Thanh, Sự khi biết chúng tôi là nhà báo, câu chuyện về đời, về quê lại càng thêm sôi nổi. Sự, Thanh nói: “Chỉ mong chính quyền tạo điều kiện cho chúng tôi mót nhặt những hòn than rơi vãi, sớm thành lập một đơn vị chuyên thu mua than cho chúng tôi với giá hợp lý”.