Khái niệm về quê ăn Tết đã quá quen thuộc với đa phần thợ mỏ Quảng Ninh. Điều đó chẳng có gì phải bàn. Vậy nhưng, trong năm cứ theo lời họ bàn tính chuyện này từ rất sớm, rồi nhìn những người thợ “khăn gói” lục tục đón xe, lên tàu; ngoài giêng lại nghe họ kể chuyện với nhau về quê hương, về gia đình và những người thân của họ, xung quanh vấn đề này cũng làm nên một nét riêng trong cái Tết của thợ mỏ.
Trong số hàng vạn công nhân ngành than vùng Quảng Ninh, đa số họ là những người từ các vùng quê khác như Thái Bình, Nam Định, Hải Dương...; xa hơn nữa như Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh... đến đất mỏ lập nghiệp, sinh sống. Mới gặp nhau, những người công nhân mỏ thường hỏi thăm nhau nhiều chuyện, nhưng không thể thiếu câu hỏi: “Anh/chị quê đâu ta?”. Câu trả lời nhiều nhất có lẽ là Thái Bình hay Hải Dương, nhưng nhiều hơn cả vẫn là Thái Bình. Thái Bình là tỉnh đông dân và cũng là tỉnh đến Quảng Ninh nhiều nhất, chủ yếu là làm nghề mỏ. Vào dịp giáp Tết thợ mỏ cũng không quên hỏi nhau: “Năm nay anh/chị có về quê ăn Tết không?” Và câu trả lời nhiều nhất vẫn là: “Có”. Vì đa phần họ có quê hương gốc gác ở nơi khác nên đến Tết trừ những trường hợp phải trực Tết theo sự phân công của đơn vị, còn lại đa phần họ đưa cả gia đình về quê ăn Tết. Những anh chị em công nhân chưa xây dựng gia đình, ở tập thể thì không nói làm gì, nhưng cả những người đã yên bề gia thất trên đất mỏ, con cái trưởng thành, lên ông, lên bà rồi... nhưng vẫn “khăn gói” về quê ăn Tết ít nhất cách niên một, hai năm một lần. Đó cũng là một nét đẹp trong văn hoá của những người thợ mỏ. Họ dù đi lập nghiệp nơi xa nhưng không bao giờ quên và không bao giờ cho phép mình quên quê hương nguồn cội. Có người còn nói: “Phải thường xuyên cho lũ trẻ vốn sinh ra trên đất mỏ về quê để xây dựng cho nó ý thức hướng về quê hương. Nó mà không thông tường về quê, có nghĩa là mình có lỗi”.
Cũng vì vậy mà nhiều khu tập thể mỏ, nhiều xóm thợ trên đất mỏ ngày thường lại đông vui hơn Tết. Nhiều người than phiền, trực Tết ở đây buồn lắm, ai cũng về quê, ngày thường còn í ới mời nhau chén rượu, sang nhà nhau chơi, nhưng Tết đến lại về quê cả. Khu tập thể giáp Tết cứ vắng dần. Đấy có thể là một vài xóm thợ có nhiều thanh niên ở tập thể, đương nhiên Tết họ về quê cả nên rất vắng. Còn những xóm thợ có nhiều gia đình thợ mỏ lại có một cách ăn Tết hiệp đồng rất riêng. Họ có sự bàn bạc trước với nhau cả rồi, và đều thống nhất: Nếu năm nào về quê là cả xóm thợ cùng về quê cả, chỉ nhà nào mỏ phân công trực Tết sẽ ở lại và kiêm luôn việc trông nhà cho cả xóm. Năm nào ở lại ăn Tết là sẽ bàn nhau ở lại cả cho vui.
Năm nay xóm thợ mỏ khu phố 196 Cao Sơn, Cẩm Phả chọn là năm về quê ăn Tết. Cả xóm có tới gần hai chục gia đình, mỗi gia đình làm việc ở một Công ty. Gia đình anh Hoà, anh Lâm, chị Lan làm ở mỏ Cao Sơn; gia đình chị Thảo, chị La làm ở mỏ Khe Chàm; gia đình anh Khang, anh Thanh làm ở mỏ Cọc Sáu; gia đình anh Kiên, anh Vẻ, chị Vân làm ở mỏ Thống Nhất v.v. Chị Vân kể với giọng rất truyền cảm và tự hào, năm nay xóm chị chọn về quê ăn Tết vì năm ngoái đã ăn Tết ở đây rồi. Nhưng gia đình chị cả hai vợ chồng được phân công trực Tết nên ở lại. Như vậy là hơi buồn vì cả xóm về quê vắng lắm. Ngoài công việc trực Tết của mỏ, ở nhà cả anh chị và các cháu còn có nhiệm vụ trông nhà và làm các thủ tục của ngày Tết cho cả xóm. Nào là thắp hương tất niên, mồng một; tưới cây cảnh, cho cá cảnh và chim cảnh ăn; nhà anh Kiên rộng vườn còn nuôi cả lợn, gà, vậy nên còn cho lợn, gà ăn nữa chứ!. Mặc dù mấy ngày Tết nhà chị Vân vẫn phải thay nhau đi làm, nhưng anh chị vẫn gói một nồi bánh chưng to đến cả hai chục chiếc. Chị nói, gói quá cho mỗi nhà trong xóm một cái để thắp hương ngày Tết. Năm nay mỏ cho nghỉ ăn Tết sớm, các gia đình chuẩn bị về quê sớm nên chưa kịp mua sắm gì. Còn anh Ban, chồng chị thì vui vẻ kể, năm ngoái cả xóm bảo nhau ở lại ăn Tết vui lắm. Nhà nào cũng có đào, quất, đèn nháy giăng, trang trí lại nhà cửa, ngõ xóm, không khí thật nhộn nhịp. Sau khi đón giao thừa, cả xóm đi sang nhà nhau chơi, xông nhà, chúc Tết uống rượu luôn. Cứ nhà nọ kéo nhà kia thành cả đoàn. Mỗi nhà chỉ uống một ly rượu, thế mà cộng lại cả xóm gần 20 nhà, tức gần 20 ly rượu, về đến nhà cũng thấy lâng lâng. Nghĩ cũng mệt, nhưng bù lại thật vui. Anh nói thêm, năm ngoái cả xóm anh còn thịt 2 con lợn ăn tết. Do vậy, có đủ món tiết canh, lòng lợn, bó giò, làm nem. Ngày 30 Tết, cũng chia thịt lợn y như ngày xưa ở quê đánh đụng lợn Tết. Tết của anh em thợ mỏ tuy không sang trọng nhưng cũng khá đầy đủ và vui vì trong xóm đoàn kết lắm.
Gia đình anh Vẻ sửa soạn để chuẩn bị năm nay về quê ăn Tết. Anh nói, bây giờ về quê cũng không phải mua sắm gì nhiều vì hàng hoá lưu thông, ở đâu cũng có. Về quê, cứ đến đầu ngõ mua quà cũng đủ thứ. Đi lại bây giờ cũng rất thuận lợi, xe nhiều, không phải lo như trước. Anh chị quê ở Thái Bình, ra đất mỏ lập nghiệp cũng đã hơn 20 năm, con cái đã trưởng thành. Anh nhớ, thời kỳ những năm thập kỷ tám mươi của thế kỷ hai mươi, anh từ quê ra đến Quảng Ninh phải mất hai ngày. Mà là hai ngày vất vả. Nghĩ mà vẫn còn thấy sợ. Mất một ngày anh mới ra đến Hải Phòng, rồi nghỉ trọ ở bến tàu, sáng hôm sau mua vé tàu đi Cửa Ông. Tàu biển chạy qua Vịnh Hạ Long cứ ù ì từ sáng đến tận 10 giờ đêm mới đến bến tàu Cửa Ông. Nếu ai ở Mông Dương, không chừng phải nghỉ trọ đến ngày thứ ba mới vào đến nơi. Nhưng bây giờ thì quá tiện rồi, cứ thích đi lúc nào cũng có xe lúc ấy, chỉ mất khoảng 3 tiếng đồng hồ là có thể đã ngồi ở quê uống nước chè rồi. Thật sướng.
Tôi thay lời kết của bài viết này bằng một lời tâm sự của anh Vẻ, dù về quê hay ăn Tết ở xóm thợ đơn sơ này, dù đời sống của thợ mỏ có thể còn chưa được sang trọng, đủ đầy, nhưng tâm hồn họ luôn phong phú và cuộc sống của họ luôn luôn vui vẻ. Thế là tốt lắm rồi. Cầu mong cho hạnh phúc, an bình luôn đến với những người thợ mỏ như xóm thợ này.