“Tôi tự hào được lớn lên từ mái trường này”

Nhân kỷ niệm Trường THPT Hồng Gai bước vào tuổi 50, tác giả bài viết- nguyên học sinh (khóa 1975-1978) Trường Phổ thông cấp III Hồng Gai, nguyên giáo viên dạy văn Trường Chuyên ban Hồng Gai (từ 1983 - 1999) xin viết những dòng này thể hiện niềm tri ân mái trường, thầy cô và bạn bè đồng nghiệp với một thông điệp giản dị “Tôi tự hào được lớn lên từ mái trường này”.

Nơi chắp cánh ước mơ

Một góc sân trường

 Một góc sân trường

Được học ở Trường Phổ thông cấp III Hồng Gai lúc đó là niềm tự hào của nhiều  học sinh, bởi cả tỉnh chỉ có vài trường cấp III. Không biết người chọn đất xây trường có xem phong thủy hay không, nhưng cảm nhận chung của mọi người là ngôi trường đẹp cả về không gian lẫn kiến trúc. Lưng trường tựa vách núi vững chắc, mặt hướng ra QL18 và Vịnh Hạ Long xinh đẹp. Bờ kè đá lớn trải dài như đường chỉ chia sân thành khoảng trên và khoảng dưới. Hàng cây được các thế hệ học sinh trồng dọc bờ kè tỏa bóng xanh mát.

Nhìn từ xa, ngôi trường như một bông hoa trên một đài hoa, như một con tàu lớn chuẩn bị xuất bến đưa các thế hệ học trò ra đại dương mênh mông. Trước bậc lên sân trên là cây phượng “gù” gân guốc và sứt sẹo, cõng trên mình bao mùa nắng tháng 5, nơi minh chứng cho sự lớn lên và tiếp nối của lớp lớp học trò. Cây phượng “gù” - “thương hiệu” của trường lắng sâu trong ký ức bao người; là niềm tự hào của bao thế hệ học trò Hồng Gai. Trong một chuyến công tác ở nước ngoài, tôi gặp một Việt kiều- nguyên là học sinh của trường. Chị ấy đưa tôi xem bức ảnh chụp cùng bè bạn dưới cây phượng "gù" mà đôi mắt chị thăm thẳm miền ký ức xa xăm.

Có phải vị thế sơn thủy hữu tình ấy của Trường đã chắp cánh tâm hồn cho biết bao Anh hùng, trí thức, văn nghệ sĩ đi xa hơn. Trưởng thành từ vùng mỏ, đó là một Quang Thọ trữ tình, một Lê Dung đằm thắm, một Doãn Tần ngọt ngào, một Hồ Quỳnh Hương bỏng cháy... Họ đã làm dào dạt thêm chất thơ cho “Tình ca người thợ mỏ”, tự hào cất cao lời ca “Tôi là người thợ lò, sinh ra trên đất mỏ”...  

Trường tôi- ngày ấy

Trường THPT Hòn Gai nằm ở địa thế đẹp của thành phố Hạ Long

 Trường THPT Hòn Gai nằm ở địa thế đẹp của thành phố Hạ Long

Phía sau trường, nằm trên triền đồi vi vút gió reo là khu tập thể của giáo viên. Khu 8 gian trên bờ kè đá quanh năm đón gió biển nồm nam dành cho giáo viên độc thân. Còn khu 5 gian, gần nhà ăn tập thể dành cho giáo viên đã có gia đình riêng. Dãy nhà tập thể gần Sở Giáo dục, lúc đó là nơi ở của gia đình thầy Kim, cô Nga, thầy Đào Duy Cát (Phó Hiệu trưởng, kiêm Bí thư Đoàn trường)... Thời gian biến cải, khu tập thể chỉ còn dãy nhà 8 gian- nơi trước dành cho hộ độc thân, sau trở thành khu gia đình thầy cô và bạn bè đồng nghiệp tôi sống. Nơi ấy đã chứng kiến bao sự đổi thay, nơi giúp thầy cô, đồng nghiệp tôi trụ vững trước thời kỳ đất nước chuyển giao đầy thử thách của nền kinh tế thị trường rất sôi động và nhưng cũng lắm bão táp. 

Quảng Ninh là nơi hội tụ đa dạng của nhiều vùng văn hóa. Nhiều công dân sinh ra từ đất Mỏ, nhưng nguyên quán phần lớn từ các miền quê khác. Vì thế, chúng tôi có may mắn được tiếp nhận sự đa dạng văn hóa từ đội ngũ giáo viên của nhiều vùng miền. Thầy Hoàng Nga (Phó Hiệu trưởng, dạy chính trị); thầy Đào Duy Cát (dạy vật lý) người Nghệ Tĩnh; thầy Viết Sơn (dạy vật lý); cô Mỹ Dung, cô Mận (dạy Nga văn) người Hải Phòng; thầy Khải, thầy Quốc Anh, cô Cúc (dạy vật lý); cô Thủy, cô Diễn (dạy toán); cô Minh, cô Châu (dạy văn) người Hà Nội; cô Báu (dạy văn); thầy Tân (dạy địa lý); chị Chi, chị Hồng đều là người Thái Bình; cô Điềm, chị Tiện (dạy sinh), cô Ninh (dạy lịch sử), cô Vân Khải, cô Hợi (dạy kỹ thuật), cô Vãng (dạy thể dục)...

Tôi được "biên chế" vào lớp 8H do thầy Đào Việt Hùng (dạy văn) làm chủ nhiệm (hiện thầy công tác ở Sở GD-ĐT Bà Rịa- Vũng Tàu). Thầy có gương mặt trắng trẻo, thư sinh; đầu tóc, ăn mặc thường rất chỉn chu, mô phạm. Và đặc biệt thầy có “tật” đỏ mặt. Đã thế, mấy “nữ quái” trong lớp thường bày nhiều trò quỷ quái trêu thầy. Nhìn thầy lúc ấy thật “tội nghiệp”. Sau 2 năm chủ nhiệm lớp, thầy Hùng xin về quê rồi “xê dịch” về phương Nam. Mãi tới năm 2002, nhân chuyến đi công tác Bà Rịa -Vũng Tàu, tôi đã đi tìm và gặp được thầy tại “tư gia 4 sao” tọa lạc ở con phố đẹp của thành phố Vũng Tàu. Thầy khác xưa, mập ra, phong độ hơn, nhưng vẫn đó nụ cười ấm áp, độ lượng và hình như gió biển phương Nam đã làm mặt thầy bớt đỏ.

Năm lớp 10, thầy Đặng Mạnh Hùng (dạy toán) chủ nhiệm  lớp  chúng tôi. Lớp tôi như có “nhân duyên” với các thầy tên Hùng. Ấn tượng nhất ở thầy là đôi mắt đen tròn, mở to, tiềm ẩn một nghị lực. Nhiều bạn ngại, chờn chợn với đôi lông mày lưỡi mác, mỗi khi dướn lên trông có vẻ dữ tướng của thầy. Nhưng “ai cũng sợ, chỉ một người không sợ”, người không biết “rùng mình” ấy là Phạm Thị Nguyệt. Chị Nguyệt học với tôi từ cấp II, sau này chị tình nguyện là “một nửa”, “nâng khăn, sửa túi” cho thầy. Kết quả tình yêu thầy trò là sự ra đời của 2 chàng trai khôi ngô tuấn tú. Tết Canh Dần vừa qua, tôi ghé thăm thầy và bạn, nhưng “thầy trò” họ đã “nâng cấp vila” đến biệt thự sang trọng khác rồi.

Giờ địa lý của thầy Lưu thường rất “yên ắng”, phần vì lớp ngại vẽ bản đồ, phần vì mọi người chờn chợn với "độ lạnh” trên khuôn mặt thầy. Ấy thế mà bọn con gái lớp tôi vẫn rì rầm bình phẩm. Thầy Hiễn dạy lịch sử (hiện Phó Giám đốc Sở GD-ĐT Quảng Ninh) thường tạo không khí sôi động, ấn tượng và thu hút học sinh bằng thông điệp “Dân ta phải biết sử ta”. Đến bây giờ, không chỉ sử ta, mà cả những bài giảng lịch sử thế giới chúng tôi vẫn còn nhớ cùng với ngữ điệu rất hài hước của thầy: “đất nước Italia giống như cái ủng”, “tháp Epphen, cánh rừng Bôlônhơ, dòng sông Xen...”, và nhất là “cái vòi bạch tuộc” của chủ nghĩa tư bản.

Chúng tôi may mắn được sống trong tình yêu thương của thầy cô- những con người nhân hậu, tận tụy và có trách nhiệm. Ngày ấy, việc phụ đạo kiến thức không giống như học thêm bây giờ. Không có khái niệm nhận thù lao, dẫu những buổi phụ đạo giữa trưa hè nóng nực, hay chiều đông lạnh giá, trong khi tiêu chuẩn giáo viên vô cùng khiêm tốn (13 kg gạo, 03 kg thịt...), sống giữa khu “bọ gà, bọ chó” (cách hài hước thầy cô gọi khu tập thể của mình). Những giờ trả văn, thầy Hùng nhận xét kỹ càng, chữa lỗi câu, diễn đạt, chính tả một cách tỉ mỉ và thậm chí còn chấm bài “tay đôi” ngoài giờ cho học sinh yếu. Cô Mận, cô Phụng rèn cho chúng tôi cách phát âm, dạy bài hát Nga và hướng dẫn tôi tự dịch thư (tôi kết bạn ở Trại hè thiếu nhi quốc tế APTEK-Liên Xô). Thầy Quốc Anh (nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Thế giới Mới, hiện là Chánh Văn phòng cơ quan thường trực Bộ GD-ĐT tại TP Hồ Chí Minh) có dáng thư sinh, giọng Hà Nội giảng bài rất truyền cảm. Không chênh tuổi tác với học trò là mấy nên nhiều nữ sinh có “cảm tình đặc biệt” với thầy. Mỗi khi thầy lên lớp, số “cá biệt” không mấy để tâm đến định luật, công thức, mà quan tâm nhiều hơn đến cặp mi cong vút, mái tóc loăn xoăn, nụ cười “Tôm Cuir” và cách nói chuyện dí dỏm của thầy...

Theo thầy, gắn với nghiệp “chèo đò”

Yêu văn chương, theo nghiệp thầy, tôi đã hướng tương lai của mình vào ngành sư phạm văn khoa. Thầy cô tổ Văn, như: thầy Sô, cô Đào Minh, chị Hoàng Thanh... đã chắp cánh cho tôi niềm đam mê văn chương ấy. Giờ văn của thầy tôi là người chuyên được thầy giao đọc tác phẩm. Có những tác phẩm dài đọc đến đứt hơi, nhưng thầy muốn một người đọc cho liền mạch. Có lần thầy nói với tôi “Em có chất giọng và âm điệu tốt. Sẽ là lợi thế nếu phát huy được những nghề cần tới nó. Em nên trở thành cô giáo dạy văn”. Tôi đã mang theo câu nói ấy của thầy làm hành trang bước vào khoa Văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Lời thầy phê trong cuốn học bạ theo tôi đến bây giờ “Hãy là một từ trong sáng và lấp lánh trong bản hùng ca cách mạng. Học sinh giỏi văn của tỉnh”. Thầy cô chắp cánh, niềm đam mê văn chương, Trường Hồng Gai và đất Mỏ- vùng đất giàu tiềm năng văn hóa đã tạo nguồn mạch dung dưỡng cho tôi những giá trị nhân văn.

Sau 4 năm đại học, thật hạnh phúc tôi được về nhận công tác tại Trường cấp III Hòn Gai. Thầy cũ, trường xưa, và những đổi thay. Vẫn bông hoa trên đài hoa, vẫn còn tàu chuẩn bị xuất bến, vẫn ngôi nhà 2 tầng, nay thêm dãy nhà lắp ghép trên đồi. Trước phòng thí nghiệm vẫn là cây mít tỏa bóng mát, vẫn cây "phượng gù" oằn mình như nhân chứng cho thời gian, vẫn thầy cô của tôi tận tụy và nhân hậu, cần mẫn với con đò sang bến mới, duy chỉ có thời gian đã làm mái tóc pha sương...

Năm xưa là trò, nay chúng tôi trở thành đồng nghiệp. Không chỉ 2 mà đã có đến 3-4 thế hệ học trò nối tiếp: Là trò của thầy, nay thành thầy của trò... Sức mạnh của Trường chính là sự kế tục, liên tục được bổ sung cho sự hùng hậu của đội ngũ giáo viên. Thời gian vận hành không chờ đợi. Con người chịu sự chi phối nghiêm ngặt của vòng quay ấy. Thầy cô chúng tôi mang tri thức đến đây khi mái tóc còn xanh, dâng hiến cả tuổi thanh xuân cho vùng Mỏ, tạo nên “thương hiệu” của Trường và bây giờ mái tóc đã “đổi màu” sau những “chuyến đò nhọc nhằn, gian nan”. Phần nhiều thầy cô tôi gắn bó với mảnh đất này và Quảng Ninh đã trở thành “chùm khế ngọt”, có thầy cô “cả đời phiêu dạt” nay mới được về quê. Có người khỏe mạnh, sống vui, sống khỏe, có người ốm đau, hàng ngày, hàng giờ chống chọi với tật bệnh; có người vui vầy bên cháu con và có cả người đã khuất...

Theo nghiệp thầy, với cương vị người thầy, chúng tôi tiếp tục nghề "chèo đò đưa khách sang sông”. Chỉ có điều những "chuyến đò” hôm nay nhọc nhằn không kể xiết bởi những tác động của thời kỳ chuyển đổi cơ chế sau đêm Đổi mới. Nhớ lại ngày ấy, giờ đây tôi vẫn cảm thấy se thắt, xa xót bởi cuộc sống kham khổ với những bữa cơm đạm bạc. Ở vùng biển mà thiếu chất tanh của cá ngon, loay hoay với loại cá “long hội” (lôi họng- cách gọi loại cá nhiều xương), với gạo kém chất lượng (dùng để chăn nuôi) được cấp theo cơ chế xin- cho. Chúng tôi thường phải nhận ánh mắt không mấy thiện cảm của nhân viên thương nghiệp để có vài mẩu thịt bèo nhèo gọi là có “chất béo” quấy bột cho con. Cầm lòng vậy khi các thầy cô chia nhau từng nửa mét vải, 1 vành, 1 săm, 1 lốp không biết “để làm gì...

Trước đổi mới, khó khăn nối tiếp, chồng chất những khó khăn. Trường học vốn được coi là thành trì vững vàng nhất cũng đã bị cơn bão táp lay chuyển. Nhiều học trò trường tôi và thầy cô giáo trường bạn đã vượt biên, chịu “kiếp tị nạn”, mong đổi đời, trốn khỏi cái khổ ngặt nghèo. Giáo viên các tỉnh phía Nam bỏ nghề. Ở phía Bắc, sức chịu đựng tốt hơn. Một bộ phận giáo viên dù phải đấu trí dữ dội cũng phân tâm, và cuối cùng họ cũng đi tới quyết định “tạm” bỏ nghề, lỗi hẹn với trường và nghề để gia nhập thị trường kinh doanh đầy sôi động.

Phải vật lộn tìm kế mưu sinh trước biến động, nhưng vẫn phải là chính mình, phải bám trụ với nghề dạy, giữ được phẩm chất nhà giáo là bài toán không hề đơn giản. Giáo viên Hồng Gai chúng tôi phải nát óc nghĩ suy, ưu tiên chọn giải pháp tình thế. Phải sống, phải tồn tại trước cơn bão cuốn của cơ chế thị trường. Thôi thì “năm bảy cũng liều”. Không liều thì con đói rét, khổ sở, mà mình cũng khó yên tâm bài vở... Giáo viên Hồng Gai chúng tôi khá nhanh nhạy trước thời cuộc, buộc phải đầu tư cho nghề phụ, dẫu biết đó là “nguồn sống chính”. Chúng tôi giúp gia đình qua được cơn sóng gió, giúp mình vững vàng bám trụ trong thử thách quyết liệt cũng bởi ngoài “Một nghề cho chín” đã có thêm chín, mười nghề phụ trợ. Công đoàn tổ chức những lớp ôn luyện ngoài giờ (đây là thu nhập sang trọng nhất); trông xe cho học sinh (cũng có giáo viên phải đền vì mất xe). Mỗi cá nhân năng động theo khả năng có thể. Người làm đại lý sách, “đại lý sữa chua”; người giỏi “xe chỉ luồn kim”, người mở thêm quầy tạp hóa tại nhà; người phát huy nghề “phó nháy”, làm đẹp, sửa xe, thậm chí phụ với gia đình bán từng bát bún ốc riêu cua... Và khu 8 gian đã mọc lên “Liên hợp quán” cùng với công nghệ chế biến bánh bateso, kem mút, chè, ô mai... Tất tả bận rộn từ sáng đến chiều tối. Giáo viên thử sức kinh doanh, chuyên phục vụ những “thượng đế học trò”. Cả thầy và trò đều phải “quen” với cơ chế này. Và tôi cũng không là ngoại lệ với nghề “rượu Bắc Ninh”, chế biến kem và một “siêu thị" tổng hợp thượng vàng hạ cám...  

Dẫu bị miếng cơm, manh áo kéo lôi, nhưng giáo viên Trường Hồng Gai chúng tôi biết từ chối những cám dỗ vật chất, vẫn sống một cuộc sống thanh bạch, vẫn “sinh nghiệp, tử nghiệp” gắn bó với nghề, cần mẫn đào tạo "thành phẩm" con người cho con em vùng Mỏ, bởi đất nước cần sản phẩm con người ưu tú. Chúng tôi thấu hiểu lời dạy sâu sắc của cổ nhân xưa “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”. Và đến lượt mình, chúng tôi lại giúp học trò thấu hiểu đạo lý đó. Mỗi thầy cô đã cho chúng tôi tấm gương về nghề nghiệp và nhân cách sống.

Thầy Đào Duy Cát- Hiệu trưởng, vốn tiềm ẩn tư chất của một chính khách. Thầy giữ cương vị Hiệu trưởng khi tuổi đời khá trẻ và có những quyết sách táo bạo, đặc biệt việc đầu tư chất lượng mũi nhọn. Thấm nhuần quan điểm “Văn học là nhân học”, thầy tiếp tục đầu tư lớp chọn văn, đào tạo lớp người phát triển toàn diện cả trí tuệ và tâm hồn. Năm học 1989-1990, thầy giao cho tôi dạy và chủ nhiệm lớp 10A3 - lớp chọn văn đầu tiên sau khi tôi đã chủ nhiệm 2 khóa lớp thường. Cũng năm ấy, thầy giao cho tôi một nhiệm vụ quan trọng “Ban Giám hiệu cử em tham gia Hội thi Tuyên truyền viên trẻ tỉnh Quảng Ninh. Chủ đề là giới thiệu về truyền thống của trường. Em viết kịch bản rồi đưa thầy góp ý”. Tôi rất lo khi nhận nhiệm vụ và niềm tin của thầy. Được thầy sửa kịch bản, tôi vừa chuẩn bị bài, vừa đạo diễn nhóm Lê Hiếu, Kiều Hải và Hải Hà (lớp 10A3) minh họa. Cô trò tôi đã diễn rất đạt, lấy được nhiều tiếng vỗ tay của khán giả. Kết quả, tôi được nhận giải Nhì cuộc thi đó.

Thầy Vũ Đình Trúc, nguyên Hiệu trưởng đã cho chúng tôi bài học về tác phong đĩnh đạc, cẩn trọng, khoa học trong công việc. Tính logic, mạch lạc thể hiện ở ngay cách thầy giảng bài, cách trình bày vấn đề. Ân cần, từ tốn, nhẹ nhàng nhưng quyết đoán là những gì tôi thấy ở thầy. Thầy luôn tạo điều kiện cho giáo viên phát huy sở trường của mình. Thầy giao cho tôi làm chủ nhiệm Câu lạc bộ thơ Lê Thánh Tông, còn thầy là chủ nhiệm danh dự. Với sự cố vấn của nhà thơ Trần Nhuận Minh, câu lạc bộ hoạt động khá hiệu quả. Đó là ngôi nhà chung của những người yêu văn thơ, mảnh đất dung dưỡng, phát hiện năng khiếu văn chương của trường. Tôi cảm nhận ở thầy một tâm hồn lãng mạn ẩn bên ngoài vẻ “khô cứng” của thầy giáo dạy toán và một nhà quản lý giáo dục: 

"Thầy giáo dạy toán
Vẫn thích làm thơ
Và thật bất ngờ
Thơ có sin, cos"

Cô Phạm Thị Nga luôn ân cần trong giao tiếp, ứng xử. Trong cô tiềm ẩn một nội lực mạnh mẽ. Đảm nhận công tác quản lý cần nhiều thời gian là điều quá sức đối với một phụ nữ có chồng làm quản lý giáo dục. Nhưng cô vẫn chỉn chu việc gia đình. Hai người con học giỏi, thành đạt là sự đáp đền xứng đáng cho một người mẹ tần tảo, biết hy sinh.

Anh Hoàng Thế Vinh, Hiệu trưởng, luôn tiềm ẩn năng lực, dám nghĩ, dám làm, phát huy thế mạnh trong công tác quản lý. Nhớ ngày đầu về trường, nhìn anh tôi cứ ngờ ngợ. Người này quen lắm, hình như đã nhẵn mặt ở bể nước, trên cầu thang nhà A7, khu giảng đường, nhưng tên thì chưa biết. Hoá ra anh là sinh viên lớp 4B, khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội, ở tầng 4 nhà A7. Khóa học của anh Vinh phần lớn trở về từ chiến trường sau năm 1975. Những người lính sinh viên ấy đã đốt lên bầu không khí sôi động cho trường sư phạm. Như một trận bão cuốn, lũ quét, lốc xoáy, các anh mang đến một nhịp sống mới hối hả của người lính, với tinh thần học tập nghiêm túc, mê say như bù lại những năm tháng cầm súng, gián đoạn việc học hành. Quê Nam Hà, tình nguyện nhận công tác ở tỉnh miền núi và “tình yêu đã làm đất lạ hóa quê hương”. Người con gái vùng than đã níu giữ tâm hồn thầy giáo dạy văn ấy, để hôm nay anh trở thành người đứng đầu trường với nhiều quyết sách mới mẻ, táo bạo, sáng tạo và gắn bó "chung thân" với mảnh đất này.

Tết Canh Dần vừa qua, tôi nghé thăm trường. Cảm giác bâng khuâng khi gặp lại trường xưa, bạn cũ. Vẫn ngôi trường đó, nhưng cơ sở vật chất được nâng cấp hiện đại hơn. Vẫn cây phượng "gù" gân guốc nhưng dường như trẻ lại trước những đổi thay kỳ diệu. Vẫn ngôi nhà 8 gian trên triền đồi, nhưng chất lượng cuộc sống đã tạo diện mạo tươi tắn, sáng sủa hơn. Khu tập thể giáo viên phía Đông- Tây và khu giáo viên tọa lạc trên mặt đường QL18 là niềm mơ ước của biết bao người. Trường tôi từng bước trưởng thành, vững vàng, là ngôi nhà chung, niềm tự hào của các thế hệ học sinh. Năm học 2007-2008, Trường gặt hái nhiều thành công nhất trong lịch sử 50 năm. Lần đầu tiên Trường có học sinh đi thi quốc tế đoạt giải, có học sinh đỗ thủ khoa (khối C, Đại học Quốc gia Hà Nội); tỷ lệ học sinh thi đỗ đại học, cao đẳng  cao nhất từ trước đến nay (trên 70%), có lớp 100% học sinh thi đỗ đại học... 

Trường tạo bước ngoặt cuộc đời tôi

Cuối năm 1996, tôi trở về Trường Đại học Sư phạm ôn thi cao học. Bước ngoặt cuộc đời bắt đầu từ đó khi tôi gặp cố nhạc sĩ Trần Hoàn, Phó Trưởng ban Tư tưởng- Văn hóa Trung ương. Tôi được đầu quân cho Vụ Văn hoá- Văn nghệ. Từ lâu, tôi chỉ nghe đến Ban Tuyên huấn Trung ương, với những cây đại thụ sắc sảo, như: Trường Chinh, Tố Hữu, Hà Xuân Trường, Hoàng Tùng, Hữu Thọ... với đường lối văn hóa, văn nghệ, những quyết sách đúng đắn trước những thời khắc lịch sử.

Đã quá quen với cái tên nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm khi giảng bài thơ “Đất nước” (Mặt đường khát vọng), thì nay tôi đã trở thành một thành viên, một cán bộ của Ban do đồng chí Nguyễn Khoa Điềm, nguyên Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Trung ương Đảng (khoá IX) và đồng chí Tô Huy Rứa, Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương (khoá X) làm thủ trưởng. Vào sư phạm, gắn bó với ngành tư tưởng- văn hóa, một bước chuyển quan trọng trong cuộc đời, tôi trở thành trở thành một cán bộ nghiên cứu, tham mưu của Đảng trên lĩnh vực văn hóa- văn nghệ.

Từ giáo dục sang môi trường công tác mới, tôi đã phải nỗ lực rất nhiều. Tôi vững vàng, tự tin cũng là bởi ý chí phấn đấu, nền móng tri thức, phông văn hóa, cách ứng xử... tôi có được, một phần là kết quả rèn rũa của bản thân, nhưng phần lớn lại là được đào luyện, dung dưỡng, trưởng thành từ chính Trường phổ thông cấp III Hồng Gai, từ thành phố Hạ Long đẹp đẽ, nên thơ.

Cám ơn thầy cô của tôi, cám ơn 16 năm công tác tại trường đã cho tôi chất liệu sống vô cùng sinh động, chắp cánh cho niềm đam mê ấy, để hôm nay từng bước trưởng thành, để tôi tự tin, thêm bản lĩnh, nâng cao tâm tuệ đảm nhận nhiệm vụ vinh quang của Đảng. Trường là bệ phóng, chắp cánh cho tôi những khát vọng, ước mơ:         

 Trường tôi đây đời bắt đầu từ đó
       Ai bảo lòng không gắn bó yêu thương.
 

Cùng chuyên mục