Bảy năm qua rồi, giờ tôi mới có dịp trở lại Bắc Sơn, vùng biên nghèo thuộc thị xã Móng Cái từng để lại trong tôi biết bao kỷ niệm, biết bao điều đáng nhớ. Những con người ngày ấy bây giờ ở đâu? Liệu tôi có còn gặp lại họ trong chuyến đi này? Chuyến đi ngày ấy tôi đã viết bài ký: Chương trình 135 ở Hải Sơn. Bài viết như một kỷ niệm buồn trong tôi đối với vùng đất biên cương xa ngái ấy...
Một buổi học của cô trò lớp một thôn Pình Hồ.
Con đường vành đai biên giới nối liền thị xã Móng Cái với phố nhỏ Pò Hèn giờ đã được thi công hoàn chỉnh. Mặt đường trải bê tông nhựa thay cho con đường lổn nhổn đất đá ngày nào. Ông Đàm Quốc Bình, Phó Giám đốc KBNN Móng Cái, cho tôi biết, con đường này do một doanh nghiệp tư nhân tự ứng vốn ra làm (công ty TNHH Quang Phát tại thị xã Móng Cái)... Nhìn quang cảnh vùng biên giờ đã đổi khác, tôi lại nhớ về quá khứ Hải Sơn ngày ấy với những đồi hoang, núi trọc cứ ám ảnh mãi trong tôi. Khác hẳn với bây giờ, trước mặt tôi là những cánh rừng xanh ngút ngát. Núi đồi nơi đây đã thay da đổi thịt thực rồi! Ông Bình như đọc được những suy nghĩ của tôi, ông nói:
- Từ ngày giao đất, giao rừng cho dân, rừng mới được lên xanh như thế này đấy anh ạ! Rừng giao cho dân trồng, dân quản, tình trạng chặt phá bừa bãi không còn nữa...
Đón chúng tôi là ông Sằn A Dùng, Phó Chủ tịch UBND xã Bắc Sơn và ông Nguyễn Văn Nam, cán bộ địa chính của xã.
Ông Dùng là người dân tộc Sán Chỉ. Gia đình ông cũng là dân kinh tế mới, chuyển từ huyện Tiên Yên ra. Tiếp chúng tôi, nụ cười vui lúc nào cũng thường trực trên khuôn mặt người cán bộ xã này.
- Xã Bắc Sơn được tách ra từ xã Hải Sơn cũ vào năm 2003. Vốn là một xã nghèo nên cơ sở vật chất còn thiếu thốn nhiều lắm. Nhưng thời gian gần đây, Bắc Sơn được lồng ghép nhiều dự án đầu tư và chương trình mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội nên đã đổi thay rất nhiều...
Bắc Sơn có bốn thôn, bảy bản. Dân số chừng hai ngàn người. Hằng năm vẫn thường xuyên có bà con từ vùng trong được chuyển ra theo chương trình di dãn dân. Tổng diện tích Bắc Sơn hiện có hơn năm ngàn ha, trong đó có hơn ba ngàn ha đồi núi và rừng trồng. Đất trồng trọt chỉ có hơn chín mươi ha, một vụ trồng lúa, một vụ trồng màu. Tôi hỏi về cuộc sống của bà con trong xã, ông Dùng hào hứng nói:
- Trước đây số hộ nghèo đói không đủ ăn khá nhiều, hầu hết là nhà tranh tre nứa lá. Nhưng đến nay, với sự quan tâm hỗ trợ của tỉnh, thị xã và các đơn vị, doanh nghiệp v.v... cộng với quyết tâm của Đảng bộ, chính quyền xã, Bắc Sơn không còn có hộ dân nào phải ở nhà tranh tre nứa lá nữa. Bây giờ điều đáng lo nhất đối với chúng tôi là nâng cao mức sống cho người dân. Phát huy thế mạnh của địa phương là có rừng, có đất, việc giao đất giao rừng đã khuyến khích bà con trồng rừng, bảo vệ rừng; kết hợp trồng cây lương thực có thế mạnh là cây ngô. Ngô ở đây phát triển rất tốt, năng suất khá cao. Từ chỗ thiếu ăn liên tiếp, nay Bắc Sơn đã tạm ổn về lương thực...
Ông Sằn A Dùng dừng lại giây lát như cân nhắc điều gì hệ trọng. Ông tiếp:
- Nhưng hiện tại, có một vấn đề khiến chúng tôi rất đau đầu. Đó là làm thế nào để trẻ em Bắc Sơn có điều kiện học hành như những nơi khác. Do chưa có trường PTTH tại xã nên nhiều học sinh đến lớp 9 phải bỏ học vì gia đình không có tiền cho con ra thị xã để học. Chúng tôi thấy rất xót xa vì các cháu sẽ là lực lượng kế cận, lực lượng nòng cốt của mảnh đất này chứ không thể là ai khác, vậy mà các cháu phải bỏ học thì rồi sau này Bắc Sơn sẽ ra sao? Ở nhiều huyện miền núi trong tỉnh, hằng năm đều có chỉ tiêu cử tuyển các cháu con em dân tộc ít người vào học tại trường phổ thông dân tộc nội trú, nhưng chỉ riêng Móng Cái là không có. Tôi đã nhiều lần kiến nghị trong các kỳ tiếp xúc cử tri của các vị đại biểu HĐND tỉnh, nhưng đến bây giờ vẫn không thấy ai quan tâm(!)...
Trường Pình Hồ được xây dựng trên khu đất cũ, như một điểm nhấn vàng trong cái nền xanh của cây, của lá. Tường xây gạch, mái bằng bê tông cốt thép đã thay cho căn nhà tranh dột nát năm nào. Tiếng trẻ bi bô đọc bài. Những cái nhìn với những cặp mắt thơ ngây của các cô bé, cậu bé làm tôi thấy vui vui. Trường Pình Hồ có 3 lớp (lớp 1 có 5 em, lớp 2 có 3 em và lớp 3 có 4 em). Ba cô giáo từ thị xã Móng Cái, cứ sáng ra lại đi xe máy lên Pình Hồ để dạy học. Nắng mưa, gió rét, cái lập trình ấy cứ tiếp diễn đối với cô, trò ở đây. Liệu rằng rồi đây trong số những học trò nhỏ bé này, có cô cậu nào sẽ học lên cao nữa, để nối nghiệp các cô giáo và trở về mà dạy chữ cho lớp lớp đàn em của mình ở bản?
Chuyện học là thế, còn chuyện KHHGĐ cũng thật đau đầu... Tôi nhớ trước đây trưởng thôn Pình Hồ là ông Choỏng A Nhì; nhưng lần này hỏi thăm thì được biết Choỏng A Hồ không còn làm trưởng thôn nữa. Tìm hiểu nguyên nhân khiến chúng tôi kinh ngạc: Do vợ chồng ông đẻ quá nhiều con, tới 13 người, quả là một kỷ lục! Trưởng thôn mới là Choỏng Sao Chắn đẻ ít hơn, chỉ mới... 5 con! Choỏng Sao Chắn tỏ ra ngượng ngùng:
- Trót đẻ nhiều rồi, giờ không đẻ nữa đâu, đông con khổ lắm!
Tôi hiểu câu nói của Chắn là thật lòng. Cái đói, cái nghèo nó luôn rình rập trên những mâm cơm độn ngô, độn sắn. Đói nghèo còn rình rập trên những cuốn vở, quyển sách của lũ trẻ đang độ tuổi đến trường...
Nhưng bên cạnh những nốt nhạc buồn ấy, cũng có những nốt nhạc vui trong cuộc sống của người dân Bắc Sơn hôm nay. Cô giáo Vi Thị Thuỳ, Hiệu trưởng trường Mầm non Bắc Sơn, đưa tôi đi thăm các cháu lớp bán trú của trường. Các cháu bé đang vào giờ ngủ trưa, những khuôn mặt bụ bẫm ửng hồng. Nhìn cô giáo trẻ đang nhẹ nhàng đắp lại chăn cho các cháu bé, lòng tôi như thấy ấm lại.Thuỳ kể:
- Trường Mầm non Bắc Sơn có 5 phân hiệu. Tổng số có 105 cháu theo học tại trường. Các cháu là con em của bà con các dân tộc trong xã và của những gia đình bộ đội đóng trên địa bàn xã. Được sự quan tâm của trên nên trường mới được như hiện nay...
Bắc Sơn giờ đã có điện lưới quốc gia. Nhiều chương trình mục tiêu đầu tư của nhà nước cho nơi đây đang ngày càng phát huy hiệu quả. Rừng núi giờ đã được thay màu áo mới. Cuộc sống của bà con nơi đây đã khá hơn trước nhiều. Và trong xu thế đi lên tất yếu ấy, tôi tin Bắc Sơn sẽ ngày một nhiều hơn những nốt nhạc vui... Điều ấy thể hiện trong sự trăn trở của Sằn A Dùng, Phó chủ tịch xã Bắc Sơn, rằng “Phải nâng cao dân trí, giảm tốc độ sinh đẻ thì cuộc sống mới hết đói nghèo...”