Ứng dụng khoa học công nghệ trong nuôi trồng thuỷ sản

Theo thống kê của Chi Cục Thuỷ sản, toàn tỉnh đang có hơn 20.000ha diện tích nuôi trồng thuỷ sản (NTTS), trong đó có khoảng hơn 5.000ha nuôi công nghiệp. Những năm gần đây, để nâng cao năng suất, giá trị trên một đơn vị diện tích nuôi, các hộ nuôi đã tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật hiện đại vào sản xuất. Hiện toàn tỉnh đã xuất hiện nhiều mô hình NTTS ứng dụng công nghệ cao, mang lại hiệu quả lớn...

Người dân phường Hải Hoà, TP Móng Cái vệ sinh ao nuôi tôm chuẩn bị vào vụ mới. Ảnh: Lưu Phương (CTV)
Người dân phường Hải Hoà, TP Móng Cái vệ sinh ao nuôi tôm chuẩn bị vào vụ mới. Ảnh: Lưu Phương (CTV)

Móng Cái và Quảng Yên là 2 địa phương triển khai mạnh mô hình nuôi tôm vụ 3. Nuôi tôm vụ 3 chính là nuôi tôm vào mùa đông, sử dụng nhà kính để nuôi tôm, qua đó làm tăng lượng nhiệt và duy trì nhiệt độ ở mức phù hợp với sinh trưởng và phát triển của con tôm trong điều kiện thời tiết lạnh giá mùa đông. Mô hình này có ưu điểm là sử dụng được nhiều vụ và năng suất cao, ước tính tăng khoảng 30% so với thông thường. Nuôi tôm vụ 3 cho thu hoạch vào thời điểm giáp Tết Nguyên đán, khi nhu cầu của thị trường tăng cao trong khi sản lượng tôm khan hiếm, thị trường tiêu thụ rộng, bán được giá, từ đó đạt giá trị cao. Theo tính toán của các hộ nuôi, 1ha tôm vụ 3 đạt sản lượng 8-10 tấn, cho thu nhập từ 800 triệu đến 1 tỷ đồng. Tuy nhiên mô hình này thường có chi phí đầu tư cao, ước khoảng 1 tỷ đồng/ha và sau mỗi vụ nuôi phải tháo dỡ nhà kính để bảo quản. Chính bởi vậy nên mặc dù mang lại hiệu quả kinh tế cao, nhưng mô hình nuôi tôm vụ 3 hiện vẫn chưa được nhân rộng, đến thời điểm này mới đạt khoảng 20ha tại TP Móng Cái và 5ha tại TX Quảng Yên.

Có thể nói, tôm là đối tượng nuôi được nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nhiều nhất thời gian qua. Để nâng cao chất lượng, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm cho tôm, hiện người nuôi tôm đã bắt đầu sử dụng chế phẩm sinh học để kích thích tăng trưởng nguồn thức ăn tự nhiên của tôm trong môi trường nuôi (tảo, phù du, sinh vật nhỏ…). Việc này không chỉ giảm bớt chi phí thức ăn, lượng thức ăn thừa trong nước, mà còn làm trong sạch môi trường, giảm dịch bệnh, đảm bảo an toàn cho con tôm. Gần đây một số hộ nuôi tôm của tỉnh còn sử dụng máy bắn thức ăn cho tôm, giúp công việc cho tôm ăn dễ dàng hơn, giảm sức lao động của người nuôi, đồng thời đạt hiệu quả cao hơn trong việc phân bố thức ăn cho tôm, tiết kiệm thức ăn hơn. Bên cạnh đó, từ kinh nghiệm thực tế, các hộ nuôi tôm cũng áp dụng cách xử lý chất thải trong môi trường nuôi bằng việc xây dựng các hộp lọc và sử dụng máy bơm để tuần hoàn nước, hút các chất thải từ môi trường nước trong ao nuôi vào hộp… Nhìn chung tất cả các giải pháp trên đều nhằm mục đích tạo môi trường sống trong sạch, khoẻ mạnh cho con tôm, là yếu tốt quyết định về năng suất, giá trị con tôm, mang lại cho người nuôi tôm thu nhập, lợi nhuận cao. Hiện các hộ nuôi tôm đã áp dụng thả ghép thêm cá đối mục trong ao nuôi tôm, nhất là các ao nuôi từng xảy ra dịch bệnh để tiêu thụ lượng thức ăn dư thừa của tôm, chất thải từ tôm. Sáng kiến này đã nâng cao thu nhập trên diện tích nuôi, bởi cá đối mục cho sản lượng khá lớn, mà không ảnh hưởng đến chất lượng nuôi tôm. Hiện mô hình này đang được phát triển tại các huyện, thị miền Đông, nhất là Tiên Yên và Đầm Hà. Riêng mô hình nuôi cá vược trong ao đất đã được áp dụng khá rộng rãi tại khu vực miền Tây, nhất là tại TX Quảng Yên. Mô hình này có tính ưu việt là giá trị đầu tư thấp, trong khi năng suất, sản lượng cá cao.

Hướng tới phát triển nghề nuôi cá biển bền vững, vừa qua Chi cục Thuỷ sản đã triển khai dự án nuôi cá lồng bè bằng vật liệu mới (nhựa HDPE) chịu sóng gió và thân thiện với môi trường. Lồng bè bằng nhựa HDPE ưu điểm là độ bền cao, không chịu ảnh hưởng khi các thuyền nhỏ va đập vào khung lồng, chịu được sóng gió và thuận lợi trong việc vệ sinh lồng. Loại lồng bè này nhằm thay thế lồng bè làm bằng gỗ và phao xốp vốn sức bền không cao, gỗ trong môi trường nước dễ bị mục gãy, còn phao xốp thì bị tở ra, ảnh hưởng không tốt tới môi trường nước. Hạn chế của loại lồng bè bằng vật liệu mới này là giá trị đầu tư ban đầu cao, nhưng ưu điểm là sử dụng được lâu dài và đặc biệt thân thiện với môi trường. Đây cũng là mô hình phù hợp với hướng phát triển nghề nuôi cá biển bền vững, sản xuất gắn với bảo vệ môi trường tự nhiên. Bởi vậy hiện nay, sau thời gian thử nghiệm, một số vùng nuôi như Vân Đồn, Cô Tô, Đầm Hà đã bắt đầu áp dụng mô hình nuôi này.

Có thể thấy, các mô hình NTTS có ứng dụng khoa học công nghệ kể trên đã và đang mang lại nhiều tác động tích cực, trong đó nâng cao thu nhập cho người nuôi một cách bền vững.

Việt Hoa

Cùng chuyên mục